BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN 1. Lời giới thiệu Hiện nay, vấn đề đổi mới phương pháp dạy học (PPDH) nói chung cũng như đổi mới PPDH môn Địa lí nói riêng đã được pháp chế hóa trong điều 28, Luật Giáo dục: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”. Do đó, việc dạy học không chỉ dừng lại ở nhiệm vụ truyền thụ kiến thức mà quan trọng hơn là dạy cho học sinh phương pháp tự học, tự chiếm lĩnh kiến thức, biết vận dụng vào giải quyết các tình huống thực tiễn trong cuộc sống. Như chúng ta đã biết, Địa lí là một môn khoa học tổng hợp vừa mang tính xã hội, vừa mang tính tự nhiên: nó nghiên cứu những vấn đề phức tạp trong không gian lãnh thổ, trong đó các thành phần gắn bó chặt chẽ với nhau, tác động lẫn nhau.
Vì vậy trong quá trình học tập bộ môn Địa lí, học sinh luôn phải tìm hiểu mối liên hệ giữa các sự vật, hiện tượng trong quá trình phát triển và biến đổi không ngừng của chúng. Việc học tập bộ môn Địa lí góp phần cho học sinh nhận thức đúng đắn về vai trò của tự nhiên và con người trong các hoạt động kinh tế - xã hội trên lãnh thổ. Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy tại trường THPT nhiều năm qua, tôi nhận thấy: Nhiều giáo viên và học sinh vẫn quan niệm: Địa lí là môn học thuộc lòng, chỉ cần học thuộc bài là đạt điểm cao, không cần tư duy như các môn học khác. Do đó việc dạy của thầy và học của trò thường là giảng giải - ghi chép nên chưa tạo được hứng thú cho học sinh, chưa phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo, chủ động; chưa giúp cho học sinh nắm bắt được bản chất các hiện tượng địa lí; đặc biệt là khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh còn yếu.
1 skkn Học sinh thường chia sẻ rằng các em gặp rất nhiều khó khăn trong việc ghi nhớ kiến thức: một phần vì bài dài, lượng kiến thức thông tin trong mỗi bài là rất nhiều; một phần vì các em có quá ít thời gian trong điều kiện lịch học tập, thi cử, hoạt động ngoại khóa dày đặc. Ngay cả khi học thuộc từng bài theo nhiệm vụ giáo viên giao sau mỗi tiết học, thì đến khi kiểm tra đánh giá nhiều bài trong các đề thi tổng hợp (như thi học kỳ, thi khảo sát chuyên đề, thi học sinh giỏi…) các em lại bị quên rất nhiều kiến thức, đúng là “học sau quên trước”, học bài này thì quên bài kia. Thực tế cho thấy, ngay cả một số học sinh chăm chỉ nhưng kết quả học tập vẫn thấp vì các em thường học bài nào biết bài đấy, không biết liên kết các kiến thức với nhau, không biết vận dụng kiến thức đã học phần trước vào phần sau. Phần lớn học sinh khi đọc sách hoặc nghe giảng trên lớp không biết cách tự ghi chép để lưu thông tin, lưu kiến thức trọng tâm vào trí nhớ của mình.
Trong chương trình sách giáo khoa môn Địa lí hiện nay, các loại sơ đồ được thiết kế và đưa vào khá nhiều bài học khác nhau, như một kênh hình bên cạnh tranh ảnh/biểu đồ để giáo viên và học sinh có thể sử dụng trong quá trình khai thác kiến thức mới. Tuy nhiên, việc khai thác và sử dụng các sơ đồ đó còn hạn chế, hiệu quả sử dụng chưa cao. Xuất phát từ những lý do trên cùng với quan điểm cho rằng có thể sử dụng sơ đồ tư duy vào dạy học như một công cụ, phương tiện giúp quá trình dạy học trở nên phong phú, sinh động hơn; tôi mạnh dạn đưa ra sáng kiến “Thiết kế và sử dụng sơ đồ trong dạy học phần Địa lí tự nhiên, Địa lí dân cư Việt Nam – chương trình lớp 12” và áp dụng vào thực tiễn dạy học tại trường THPT Nguyễn Viết Xuân. Qua việc thiết kế và sử dụng sơ đồ trong dạy học môn Địa lí, tôi muốn giúp học sinh nắm vững kiến thức môn học, thúc đẩy ham muốn học tập của học sinh, tăng cường khả năng vận dụng kiến thức vào đời sống để giải quyết các vấn đề thực tiễn.
Trên thực tế đã có một số tài liệu, báo cáo chuyên đề hoặc sáng kiến của các nhà sư phạm học và đồng nghiệp tại các địa phương khác nhau nghiên cứu 2 skkn về phương pháp sử dụng sơ đồ trong giảng dạy bộ môn Địa lí ở các cấp học khác nhau. Ví dụ: + “Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học địa lí lớp 12” – luận văn thạc sĩ Khoa học giáo dục của Nguyễn Đình Tuấn. + “Xây dựng và sử dụng sơ đồ trong dạy học địa lí” – Bùi Văn Tiến, trường THPT Buôn Mê Thuột. Tuy nhiên, các đề tài, bài viết trên chủ yếu đề cập đến những định hướng sử dụng sơ đồ trong quá trình dạy học chung của cả một khối, nên còn mang tính lí luận, hàn lâm và chung chung, số lượng ví dụ minh họa chưa nhiều, và chưa có bài viết nào đi sâu vào riêng chủ đề “Địa lí tự nhiên, địa lí dân cư Việt Nam” của chương trình Địa lí lớp 12.
Bản thân tôi xin được tiến hành nghiên cứu một cách cụ thể về việc thiết kế và sử dụng sơ đồ trong dạy học môn Địa lí 12 - chủ đề Địa lí tự nhiên và địa lí dân cư. Tôi lựa chọn 2 chủ đề này vì: “Địa lí tự nhiên” là nội dung khó, chiếm tới 1/3 lượng kiến thức của chương trình lớp 12, học sinh phải tiếp cận chủ đề này ngay từ đầu năm học và nó là nền tảng để nắm được kiến thức phần địa lí các ngành và các vùng kinh tế sẽ học ở phần sau; còn “Địa lí dân cư” tuy chỉ chiếm thời lượng nhỏ trong chương trình nhưng là phần nội dung có tính vận dụng vào thực tiễn cao (đặc biệt là vấn đề lao động, việc làm – sau này mỗi cá nhân học sinh khi bước vào cuộc sống đều phải đối mặt). Việc nắm vững kiến thức, kĩ năng khi học hai chủ đề này không chỉ giúp học sinh có cơ sở tốt hơn để học tập các chủ đề sau trong chương trình địa lí 12, làm bài thi THPTQG được dễ dàng hơn, mà quan trọng hơn nữa, các em còn có khả năng vận dụng giải quyết các tình huống trong thực tiễn cuộc sống. Tên sáng kiến “Thiết kế và sử dụng sơ đồ trong dạy học phần Địa lí tự nhiên, Địa lí dân cư Việt Nam - chương trình lớp 12”.
Tác giả sáng kiến - Họ và tên: Trương Thị Dung - Địa chỉ: Trường THPT Nguyễn Viết Xuân - Vĩnh Tường - Vĩnh Phúc. - Số điện thoại: 0986131269 - Email: truongthidung. Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến: Trương Thị Dung 5. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến Bộ môn Địa lí 12, chương Địa lí tự nhiên và Địa lí dân cư.
Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu hoặc áp dụng thử Ngày 01/10/2018 7. Mô tả bản chất của sáng kiến 7. Nội dung của sáng kiến Nội dung của sáng kiến được thể hiện theo sơ đồ sau: 7. Các loại sơ đồ dùng trong giảng dạy bộ môn Địa lí Xét về đặc điểm cấu trúc, có thể chia các loại sơ đồ dùng trong giảng dạy Địa lí ở trường THPT thành các dạng: - Sơ đồ cấu trúc: là loại sơ đồ thể hiện các thành phần, yếu tố trong một chỉnh thể và mối quan hệ giữa chúng.
Ví dụ: Sơ đồ cơ cấu ngành công nghiệp ở Việt Nam 4 skkn - Sơ đồ quá trình: là loại sơ đồ thể hiện vị trí các thành phần, các yếu tố và mối quan hệ của chúng trong quá trình vận động. Ví dụ: Sơ đồ chuyển động của trái đất quanh mặt trời và các mùa ở bắc bán cầu - Sơ đồ địa đồ học: là loại sơ đồ biểu hiện mối quan hệ về mặt không gian của các sự vật - hiện tượng địa lí trên lược đồ, bản đồ. Ví dụ: Sơ đồ vị trí các khối khí ở Bắc Mĩ 5 skkn - Sơ đồ logic: là loại sơ đồ biểu hiện mối quan hệ về nội dung bên trong của các sự vật-hiện tượng địa lí. Ví dụ: Sơ đồ về sự ô nhiễm không khí - Sơ đồ tư duy, hay Mind Map (MM): là một hình thức ghi chép sử dụng từ khóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh hoặc có thể là âm thanh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng, nội dung cần thể hiện.
Ở giữa bản đồ là một ý tưởng hay hình ảnh trung tâm, ý tưởng hay hình ảnh trung tâm này sẽ được phát triển bằng các nhánh tượng trưng cho những ý tưởng và đều được nối với ý trung tâm. Các nhánh chính lại được phân thành những nhánh nhỏ nhằm nghiên cứu chủ đề ở mức độ sâu hơn. Những nhánh nhỏ này lại tiếp tục được phân thành nhiều nhánh nhỏ hơn, nhằm nghiên cứu vấn đề ở mức độ sâu hơn nữa. Nhờ sự kết nối giữa các nhánh, các ý tưởng cũng có sự liên kết dựa trên mối liên hệ của bản thân chúng, 6 skkn điều này khiến MM có thể bao quát được các ý tưởng trên một phạm vi sâu rộng mà một bản liệt kê ý tưởng thông thường không thể làm được.
Ví dụ: Sơ đồ tư duy bài “Sóng, thủy triều, dòng biển” Phân theo mục đích sử dụng, có thể chia sơ đồ thành các loại như sau: - Sơ đồ dùng để chứng minh hay giải thích một sự vật/hiện tượng/mối quan hệ địa lí nào đó. - Sơ đồ tổng hợp dùng để ôn tập, tổng kết hay hệ thống kiến thức một bài/một chương/ một chủ đề nào đó. - Sơ đồ kiểm tra để đánh giá năng lực tiếp thu, hiểu biết của học sinh đồng thời giúp giáo viên kịp thời điều chỉnh nội dung truyền đạt. Trong phạm vi của đề tài này, tôi tập trung trọng tâm vào hai loại sơ đồ là: sơ đồ cấu trúc – thường được dùng trong quá trình giảng dạy kiến thức mới trên lớp, và sơ đồ tư duy – thường được dùng trong quá trình củng cố, tổng kết kiến thức cuối bài và quá trình học sinh ôn tập ở nhà.