Chương 1. Vấn đề sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương ở lớp 10 trung học phổ thông tỉnh Ninh Bình – Lý luận và thực tiễn. Hình thức, biện pháp sử dụng di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư trong dạy học lịch sử địa phương ở lớp 10 trung học phổ thông tỉnh Ninh Bình. 14 c CHƢƠNG 1 VẤN ĐỀ SỬ DỤNG DI SẢN VĂN HÓA CỐ ĐÔ HOA LƢ TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ ĐỊA PHƢƠNG Ở LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TỈNH NINH BÌNH – LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.
Quan niệm về sử dụng di sản văn hóa trong dạy học lịch sử địa phương 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài - Di sản: Di sản là đề tài được nhiều học giả và các nhà nghiên cứu quan tâm. Nhiều công trình nghiên cứu có các mục đích khác nhau và tiếp cận ở nhiều góc nhìn, tuy nhiên các công trình này có quan niệm tương đối thống nhất: di sản văn hóa dù nó có tồn tại dưới dạng vật chất hay tinh thần đều là những thành quả sáng tạo của nhân dân, có giá trị to lớn trong đời sống của nhân dân qua các thời kì lịch sử. Theo từ điển Việt Anh: “Di sản là cái thời trước để lại; còn văn hoá là tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lịch sử” [65; tr.
- Di sản văn hóa: Theo Điều 1 của Luật Di sản văn hóa đã được Quốc hội thông qua năm 2001 (Luật số 28/2001/QH10 của Quốc hội), có thể định nghĩa các khái niệm như sau: Di sản văn hoá: “là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác” [46]. Bộ Luật này cũng nhấn mạnh: “Di sản văn hoá Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hoá nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta” [46]. Về phân loại, DSVH bao gồm di sản văn hoá vật thể và di sản văn hoá phi vật thể: 15 c Sơ đồ 1. Phân loại di sản văn hóa Trong đó: + Di sản văn hóa vật thể: “là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học, bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia” [46].
Như vậy, DSVH vật thể bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia. Cụ thể hơn: Di tích lịch sử - văn hoá: “là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”; Danh lam thắng cảnh: “là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh quan thiên nhiên với công trình kiến trúc có giá trị lịch sử, thẩm mỹ, khoa học”; Di vật: “là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị lịch sử, văn hoá, khoa học”; Cổ vật: “là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị tiêu biểu về lịch sử, văn hoá, khoa học, có từ một trăm năm tuổi trở lên”; 16 c Bảo vật quốc gia: “là hiện vật được lưu truyền lại, có giá trị đặc biệt quý hiếm tiêu biểu của đất nước về lịch sử, văn hoá, khoa học” [46]. Về phân loại các di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh thuộc DSVH vật thể nói chung, căn cứ Điều 4, Điều 28 Luật di sản văn hoá (sửa đổi, bổ sung năm 2009) và Điều 14 Nghị định số 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002 của Chính phủ Việt Nam quy định chi tiết một số điều của Luật Di sản văn hoá, các di tích được phân loại theo 4 cách: Di tích khảo cổ học, di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật và danh lam thắng cảnh. Trong đó: Di tích khảo cổ là những địa điểm khảo cổ có giá trị nổi bật đánh dấu các giai đoạn phát triển của các văn hoá khảo cổ; Di tích lịch sử là công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu trong quá trình dựng nước và giữ nước; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với thân thế và sự nghiệp của anh hùng dân tộc, danh nhân của đất nước; Công trình xây dựng, địa điểm gắn với sự kiện lịch sử tiêu biểu của các thời kỳ cách mạng, kháng chiến; Di tích kiến trúc nghệ thuật là quần thể các công trình kiến trúc hoặc công trình kiến trúc đơn lẻ có giá trị tiêu biểu về kiến trúc, nghệ thuật của một hoặc nhiều giai đoạn lịch sử.
+ Về khái niệm Di sản văn hóa phi vật thể, theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật di sản văn hóa (Luật số 32/2009/QH12 của Quốc hội), tại Khoản 1 Điều 4:“là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác” [46]. Theo Điều 4 Thông tư số 04/2010/TT – BVHTTDL quy định DSVH phi vật thể bao gồm các loại hình: Tiếng nói, chữ viết của các dân tộc Việt Nam; Ngữ văn dân gian (bao gồm sử thi, ca dao, dân ca, tục ngữ, hò, vè, câu đố, truyện cổ tích, truyện trạng, truyện cười, truyện ngụ ngôn, hát ru và các biểu đạt khác được chuyển tải bằng lời nói hoặc ghi chép bằng chữ viết); Nghệ thuật trình diễn dân gian (bao gồm âm nhạc, múa, hát, sân khấu và các hình thức trình diễn dân gian khác); Tập quán xã hội và tín ngưỡng (bao gồm luật tục, hương ước, chuẩn mực đạo đức, nghi lễ và các phong tục khác); Lễ hội truyền thống; Nghề thủ công truyền thống; Tri thức dân gian. 17 c - Địa phương: Để dạy học tốt LSĐP, trước hết chúng ta cần hiểu đúng khái niệm “Địa phương”. Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học, 2003, địa phương có nghĩa là vùng, khu vực trong quan hệ với những vùng, khu vực khác trong nước hoặc trong quan hệ với trung ương, với cả nước.
Cho đến nay, có nhiều quan niệm về thuật ngữ này, tuy nhiên, dưới góc độ nghiên cứu lịch sử, có thể hiểu theo hai nghĩa như sau theo cuốn Giáo trình Lịch sử địa phương của Nguyễn Cảnh Minh (chủ biên): Theo nghĩa cụ thể, địa phương “là những đơn vị hành chính của một quốc gia, đó là những tỉnh, thành phố, huyện, xã, thôn, bản, làng, buôn, mường, ấp…” [40; tr. Theo nghĩa khái quát trừu tượng, địa phương “là những vùng đất, khu vực nhất định, được hình thành trong lịch sử, có ranh giới tự nhiên (không giống như địa giới hành chính) để phân biệt với các vùng đất khác” [40; tr. Cũng theo Nguyễn Cảnh Minh, “địa phương có những mối liên hệ với cả nước và là một bộ phận cấu thành của đất nước, đồng thời cũng có những nét riêng tạo nên sắc thái riêng của vùng mình”. Qua các cách hiểu như trên, có thể rút ra định nghĩa LSĐP chính là lịch sử của làng, xã, huyện, tỉnh, thành phố hay khu vực, vùng miền.
Ngoài ra, LSĐP còn bao hàm ý nghĩa là lịch sử của các đơn vị sản xuất, chiến đấu, các trường học, cơ quan, xí nghiệp, nhà máy… 1. Quan niệm về sử dụng di sản văn hóa nói chung, di sản văn hóa Cố đô Hoa Lư nói riêng trong dạy học lịch sử địa phương Theo từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, NXB Đà Nẵng, Trung tâm từ điển học, 2003, sử dụng có nghĩa là “đem dùng vào mục đích nào đó” [45; tr. Vậy sử dụng DSVH trong dạy học LSĐP được hiểu là dùng nguồn tư liệu về DSVH như một phương tiện, công cụ để dạy học hiệu quả nội dung LSĐP trong chương trình GDPT. - Về vấn đề sử dụng DSVH trong dạy học môn lịch sử nói chung, trong tài liệu tập huấn của Bộ Giáo dục và đào tạo về Sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông đã nêu rõ các quan niệm về phương pháp, hình thức và kiểm tra đánh giá khi sử dụng DSVH trong dạy học môn lịch sử.
Cụ thể là: + Về phương pháp: Sử dụng DSVH trong dạy học lịch sử đều phải tuân theo 18 c phương pháp tích cực hướng tới hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của người học: “Các phương pháp tích cực có các dấu hiệu đặc trưng là: dạy và học thông qua tổ chức các hoạt động học tập của HS; dạy học chú trọng rèn luyện phương pháp tự học, tăng cường học tập cá thể, phối hợp với học tập hợp tác” [13; tr. Một số hình thức tổ chức và phương pháp dạy học tạo điều kiện phát huy tính tích cực học tập của HS là: Thứ nhất, việc sử dụng di sản trong dạy học bộ môn lịch sử ở trường phổ thông trước hết phải thông qua các phương pháp truyền thống theo tinh thần đổi mới phù hợp với từng môn học như trình bày miệng, sử dụng đồ dùng trực quan, … Thứ hai, sử dụng các phương pháp và phương tiện dạy học hiện đại như: dạy học nêu vấn đề, dạy học theo dự án, sử dụng công nghệ thông tin trong dạy học. + Về hình thức: Đối với các hình thức dạy học khi sử dụng DSVH bao gồm: Khai thác, sử dụng tài liệu về DSVH để tiến hành bài học ở trên lớp; Tiến hành bài học tại nơi có di sản (hay thực địa, bảo tàng, phòng truyền thống…); Tổ chức tham quan ngoại khóa – trải nghiệm di sản; Sử dụng di sản để tổ chức các hoạt động ngoại khóa khác (tổ chức triển lãm, ra báo học tập; thi tìm hiểu về di sản ở địa phương; tổ chức cho HS chăm sóc các DSVH ở địa phương…) + Về kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS: khi GV sử dụng DSVH để kiểm tra, đánh giá vẫn đảm bảo những yêu cầu chung của công tác này.