Chương 3 Sù BIÕN §æI Tõ CHÝNH TRÞ THùC D¢N PHONG KIÕN SANG CHÝNH TRÞ D¢N CHñ NH¢N D¢N 3. Quá trình lựa chọn kiểu nhà nước cho bài toán độc lập ở Việt Nam từ nửa sau thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX 3. Khuynh hướng tái lập kiểu nhà nước phong kiến cuối thế kỷ XIX Một kiểu nhà nước bao giờ cũng được biểu hiện cụ thể trong một hình thức nhà nước nhất định. Khuynh hướng chính trị này tái lập kiểu nhà nước phong kiến dưới hình thức nhà nước quân chủ chuyên chế trung ương tập quyền.
Tiêu biểu cho khuynh hướng chính trị này không thể không kể đến vua Hàm Nghi và tướng Tôn Thất Thuyết. Là những người đứng đầu phe chủ chiến trong triều đình, trong dụ Cần Vương Hàm Nghi ngày 06-6-1888 viết: “Trẫm vâng noi đại thống, nối tiếp cơ đồ lớn lao, nhưng vận nước gian truân, bọn giặc thôn tính, thế thậm lan dần, không thể tạm yên. Vì thế đã mật triệu các bề tôi vào viện Cơ Mật uống máu ăn thề, hẹn trước hết đánh phá tại kinh thành, sau đó đuổi dài vào Gia Định” [212]. “Noi đại thống, nối tiếp cơ đồ lớn lao” ở đây chính là tiếp tục chế độ quân chủ cha truyền con nối hàng nghìn năm ở Việt Nam.
Kêu gọi nhân dân phò vua cứu nước, sau khi giành độc lập lại tiếp tục xây dựng chế độ phong kiến ở nước ta chính là con đường của các lãnh tụ Cần Vương. Với tôn chỉ này, “ái quốc” đã có thể gắn với “trung quân”. Tư tưởng chính trị đã trở thành nền tảng cho chế độ phong kiến Việt Nam suốt chiều dài lịch sử được khơi dậy trong bối cảnh đất nước nguy nan đã trở thành động lực thúc đẩy phong trào yêu nước chống Pháp phát triển. 142 SỰ BIẾN ĐỔI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM TỪ 1858 ĐẾN 1945 Là một người đứng đầu triều đình phong kiến nhà Nguyễn, trong một nền quân chủ đã có bề dày hàng nghìn năm ở nước ta, lại chịu ảnh hưởng sâu sắc của Nho giáo, việc hướng đất nước theo mô hình phong kiến sau ngày độc lập của những lãnh tụ Cần Vương là điều dễ hiểu.
Những lãnh tụ yêu nước này chưa vượt ra khỏi nguồn gốc xuất thân của mình để hướng tới một chân trời mới, mở ra một hướng đi mới cho dân tộc. Nền quân chủ đã toả sáng trong nhiều triều đại phong kiến Việt Nam, làm rạng danh cho dân tộc trong các triều đại phong kiến lớn như Lý, Trần, Lê… đã không còn đủ sức cứu dân tộc Việt Nam trong bối cảnh lịch sử này. Khi mà nhiều người đứng đầu triều đình đã phản bội lại lợi ích dân tộc, xã hội phong kiến không còn là một xu thế phát triển hợp quy luật, ở Việt Nam nó đã đến độ suy tàn, cuộc sống của nhân dân đói khổ, các cuộc đấu tranh của nông dân chống triều đình đã diễn ra ở khắp đất nước trong nhiều năm thì ngọn cờ quân chủ dù có làm dấy lên những cuộc khởi nghĩa chống Pháp oanh liệt nhưng cũng không đủ sức làm thay đổi thân phận nô lệ của dân tộc Việt Nam và nhân dân Việt Nam. Điều mà các lãnh tụ Cần Vương đầy nhiệt huyết còn thiếu là tầm nhìn thời đại để nhìn thấy xu thế phát triển tất yếu của xã hội.
Và số phận bi thương của họ là kết cục tất yếu của những con đường như vậy. Một Hàm Nghi bị tù đày, sống lưu vong nơi đất khách quê người: “Những người giúp việc bị chặt đầu và nhà vua bị đưa đi đày ở đảo Rêuyniông ở châu Phi” [98, tr. Một Đả Thạch Ông - Tôn Thất Thuyết thác nơi xứ người cũng là điều không khó lý giải. Mặt khác, có thể thấy một trong những nguyên nhân thất bại của Cần Vương - phong trào yêu nước theo khuynh hướng chính trị phong kiến điển hình ở Việt Nam - là do vấn đề lực lượng.
Phong trào Cần Vương dù cũng đã dấy lên nhiều cuộc khởi nghĩa chống Pháp oanh liệt khắp ba miền song không thực sự thu hút được đông đảo lực lượng nhân dân hưởng ứng và đi theo, đặc biệt các nhà nho, lực lượng tinh hoa trí tuệ trong xã hội phong kiến. Trước thực tế một số ông vua triều Nguyễn cam tâm bán nước, phản bội lại lợi ích dân tộc, một câu hỏi lẩn quất trong đầu họ: Khi Chương III. Sự biến đổi từ chính trị thực dân phong kiến sang… 143 vua không trung với nước nữa thì bề tôi có nhất thiết phải trung với vua nữa hay không. Và trong khi nhiều nhà nho vẫn giữ tư tưởng trung quân song “có một số người thấy được rằng: có một cái phân biệt với vua, cao hơn vua, ấy là đất nước; khi có mâu thuẫn giữa trung vua với yêu nước thì người dân phải đặt nước lên trên vua” [37, tr234].
Với nhận thức này “ái quốc” đã có sự độc lập nhất định với “trung quân” chứ không gắn hữu cơ với “trung quân” như trước nữa. Cũng chính vì vậy, ngọn cờ “ái quốc - trung quân” không thực sự có sức hấp dẫn và lôi cuốn đông đảo nhân dân hưởng ứng. Thực tế này dẫn tới sự hạn chế về lực lượng trong con đường cứu nước theo khuynh hướng chính trị phong kiến. Có thể thấy, trên nền một phương thức sản xuất TBCN phát triển cao hơn hẳn phương thức sản xuất phong kiến, các nhà nước tư sản đã xuất hiện ở phương Tây và ngày càng tỏ rõ ưu thế của mình với sự phát triển kinh tế xã hội thì việc tái lập một mô hình nhà nước nằm trong kiểu nhà nước phong kiến ở Việt Nam lúc đó hoàn toàn không phù hợp với xu thế phát triển chung của thời đại.
Và sự thất bại của một con đường cứu nước gắn với kiểu nhà nước phong kiến là hoàn toàn có thể lý giải được. Dù thất bại, song khuynh hướng tái lập kiểu nhà nước phong kiến vẫn âm ỉ cháy. Đó vẫn là khao khát và mục đích hướng tới của nhiều người thuộc dòng dõi hoàng tộc, đặc biệt là các vị vua nhà Nguyễn. Khuynh hướng này kéo dài đến tận mùa thu năm 1945 khi vua Bảo Đại tuyên bố thoái vị, nộp ấn kiếm cho đại diện nhà nước Việt Nam mới.
Đó là lời tuyên bố chính thức chấm dứt sự tồn tại trên thực tế của chế độ phong kiến ở Việt Nam. Tuy nhiên, không phải vậy mà tư tưởng quân chủ của những người bảo hoàng đã hết. Nó còn tồn tại dai dẳng mãi tới sau này. Khuynh hướng xác lập kiểu nhà nước tư sản đầu thế kỷ XX a.
Dưới hình thức quân chủ lập hiến Tiêu biểu cho khuynh hướng chính trị này là con đường cứu nước của lãnh tụ Phan Bội Châu. Ông xuất thân từ một nhà nho 144 SỰ BIẾN ĐỔI CHÍNH TRỊ Ở VIỆT NAM TỪ 1858 ĐẾN 1945 yêu nước. Trong giai đoạn đầu của sự nghiệp chính trị của mình, khi xông pha tìm con đường cứu dân, cứu nước, Phan Bội Châu cũng thể hiện rõ khuynh hướng quân chủ trong tư tưởng và nhận thức của mình. Ngưỡng mộ mô hình chính trị của Nhật Bản, ông hướng tới một chế độ quân chủ lập hiến theo kiểu Nhật chứ không phải quân chủ chuyên chế như mô hình đã tồn tại bấy lâu trong lịch sử dân tộc.
“Kìa xem Nhật Bản người ta Vua dân như thể một nhà kính yêu Chữ bình đẳng đặt đầu chính phủ ” [159, tr.192] Phan Bội Châu miêu tả nước Việt Nam dưới chế độ chuyên chế phong kiến thật thiểu não, ảm đạm, thiếu sức sống: “nước Việt Nam mơ màng đôi mắt ngủ, uể oải một thân bệnh, tôn quân quyền, ức dân quyền, trọng hư văn, khinh võ sĩ… Than ôi, nguy ngập lắm thay” [17, tr. Ông lên tiếng phê phán nền quân chủ chuyên chế: “Về chính giáo thì chứa chất hủ lậu, mọi việc đều mô phỏng Minh Thanh, văn nhân thì khư khư giữ theo sách cũ, tự khoe đắc chí; võ sĩ thì cốt ở cờ trống mỹ quan, côn quyền coi như trò chơi, tự cho là không ai hơn được. Đáng bỉ hơn hết là ức chế dân quyền, coi thường dư luận, phàm bàn việc quốc gia đại kế, nhân dân chỉ được ở ngoài hỏi rồi than thở mà thôi” [17, tr.34] Trong tác phẩm nổi tiếng Hải ngoại huyết thư, ông chỉ ra nguyên nhân mất nước là do sự quan liêu của chính thể quân chủ, vua quan không biết gì tới đời sống của nhân dân, nhân dân thờ ở với việc nước, coi đó không phải là việc của mình: “Một là vua sự dân chẳng biết Hai là quan chẳng thiết gì dân Ba là dân chỉ biết dân Mặc quân với quốc, mặc thần với ai” [159, tr.242] Ông coi vua như dân tặc - tức kẻ thù của nhân dân, ông coi chuyên chính của lực lượng cầm quyền như nọc độc, ông thấy sự Chương III. Sự biến đổi từ chính trị thực dân phong kiến sang… 145 bất công của một chế độ trong đó một người ngồi trên ngàn vạn người dân, sống trên mồ hôi nước mắt của ngàn vạn người này.
Mặc dù vậy, trong tư tưởng của Phan Bội Châu vẫn còn một sự vấn vương, lưu luyến rõ nét với nền quân chủ đã tồn tại hàng nghìn năm ở nước ta. Ông chỉ chủ trương khiển trách, trừng phạt những vua tệ, quan hư chứ không chủ trương lật đổ ngai vàng, biểu tượng quyền lực của xã hội phong kiến. Phê phán quân chủ song không thể rời bỏ nó, ông đã giải quyết mâu thuẫn này bằng một mô hình chính thể theo kiểu quân chủ lập hiến của Nhật Bản. Trong mô hình này vừa có vua làm biểu tượng quyền lực quốc gia, mặt khác, vai trò của dân cũng được coi trọng ở mức độ nhất định và vì vậy, quyền lực của vua không còn là tối thượng nữa.
Như vậy, “Phan Bội Châu trong thời kỳ đầu của sự nghiệp chưa thể chấm dứt ngay những ràng buộc với tư tưởng trung quân, đặt tư tưởng dân chủ, cách tân của mình trên giá đỡ của ý thức hệ Nho giáo… Ông thành lập một tổ chức cách mạng lấy tên là Duy Tân hội, nhưng lại suy tôn Kỳ ngoại hầu Cường Để làm Hội chủ, theo quan niệm suy tôn minh chủ, với mục đích khôi phục nước Việt Nam, lập ra một chính phủ độc lập” [145, tr. Phong trào Đông Du với những cuộc đi ra nước ngoài của tầng lớp trí thức sang Nhật Bản cũng không đạt được mục tiêu cuối cùng, Nhật đã trục xuất sinh viên An Nam ra khỏi nước Nhật. Và kết quả đau buồn của phong trào là: “Tất cả những người trí thức nào có đôi chút tiếng tăm đều bị đưa đi đày. Tất cả các trường tư thục đều bị đóng cửa và tất cả các sách báo nước ngoài đều bị cấm.