Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ triết học với đề tài "Sự biến đổi của các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam hiện nay" được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Vũ Mạnh Dũng, dưới sự hướng dẫn khoa học của Giáo sư Hồ Sĩ Quý, tại Học viện Khoa học xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam (chuyên ngành Đạo đức học, mã số 9 22 90 06, bảo vệ năm 2019).
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ bối cảnh lịch sử và địa chính trị đặc thù của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Trải qua hàng ngàn năm thường xuyên phải đối phó với điều kiện thiên nhiên khắc nghiệt và các thế lực xâm lược ngoại bang, dân tộc Việt Nam đã hình thành và tôi luyện nên những giá trị đạo đức truyền thống bền vững. Các giá trị này giữ vị trí nền tảng, tạo nên cốt cách tinh thần và sức mạnh nội sinh giúp cộng đồng sinh tồn và phát triển. Tuy nhiên, khi đất nước đẩy mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát triển kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa, đời sống xã hội đã có những chuyển biến sâu sắc. Quá trình này vừa tạo cơ hội tiếp nhận các giá trị văn hóa tiến bộ của nhân loại, vừa làm nảy sinh những nguy cơ lớn, đặc biệt là sự xói mòn, suy giảm và đứt gãy các chuẩn mực đạo đức truyền thống ở một bộ phận nhân dân, nhất là giới trẻ. Tác giả chỉ ra khoảng trống nghiên cứu: các công trình trước đây phần lớn mới tiếp cận vấn đề từ góc độ giá trị văn hóa hoặc giá trị tinh thần nói chung, hoặc chỉ xem xét sự biến đổi đạo đức gắn với một vài khía cạnh kinh tế thị trường riêng lẻ. Do đó, việc nghiên cứu một cách trực tiếp, toàn diện về sự biến đổi của các giá trị đạo đức truyền thống từ góc độ đạo đức học mác-xít để nhận diện rõ cả mặt tích cực lẫn tiêu cực, từ đó đề xuất giải pháp định hướng là yêu cầu mang tính cấp thiết.
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ sự biến đổi của các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam trong điều kiện hiện nay, từ đó đề xuất các giải pháp nhằm bảo đảm sự biến đổi của các giá trị này theo hướng tích cực. Để thực hiện mục đích đó, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan những công trình nghiên cứu về lý luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài và xác định những nội dung mà luận án cần phải tiếp tục nghiên cứu.
- Làm rõ một số khái niệm cơ bản và các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam tiêu biểu; đồng thời phân tích sự biến đổi của chúng trong sự vận động lịch sử của dân tộc Việt Nam.
- Nghiên cứu thực trạng biến đổi các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam (bao gồm cả biến đổi tích cực và tiêu cực) cùng nguyên nhân của sự biến đổi đó ở nước ta hiện nay.
- Đề xuất một số phương hướng và giải pháp nhằm tác động tích cực và hạn chế tác động tiêu cực đến sự biến đổi của các giá trị đạo đức truyền thống, đáp ứng yêu cầu xây dựng đất nước và con người Việt Nam hiện nay.
Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự biến đổi của các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam trong điều kiện hiện nay. Phạm vi nghiên cứu được tác giả giới hạn ở 5 giá trị đạo đức truyền thống tiêu biểu gồm: tinh thần yêu nước; tinh thần đoàn kết và ý thức cộng đồng; lòng nhân ái thương người; đức tính cần cù tiết kiệm; tinh thần hiếu học và tôn sư trọng đạo. Về thời gian, luận án tập trung khảo sát sự biến đổi của các giá trị này chủ yếu từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam khởi xướng công cuộc đổi mới (năm 1986) cho đến nay.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Trong Chương 1, tác giả đã tiến hành tổng quan hệ thống các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài, chia thành ba nhóm hướng nghiên cứu chính:
Nhóm thứ nhất gồm các công trình nghiên cứu lý luận về giá trị đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống. Tác phẩm của Trần Văn Giàu (1993) "Giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc Việt Nam" đã phân tích sâu sắc các giá trị quý báu như lòng yêu nước, cần cù, anh dũng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa dưới góc độ sử học, triết học và đạo đức học. Nguyễn Ngọc Vân (1995) trong "Giá trị truyền thống và giá trị hiện đại" cùng Phan Huy Lê (1996) với "Truyền thống và hiện đại: vài suy nghĩ và đề xuất" làm rõ vai trò của giá trị truyền thống trong việc hình thành giá trị hiện đại. Trần Đình Hượu (1996) trong "Đến hiện đại từ truyền thống" khẳng định giá trị đạo đức do điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội quy định. Nguyễn Trọng Chuẩn (1998) nghiên cứu cách thức khai thác giá trị truyền thống vì mục tiêu phát triển. Nguyễn Văn Huyên (1998) khẳng định giá trị truyền thống là hạt nhân và sức sống nội sinh của sự phát triển dân tộc. Công trình đồng chủ biên của Nguyễn Trọng Chuẩn và Nguyễn Văn Huyên (2002) bàn về việc giữ gìn bản sắc dân tộc trước toàn cầu hóa. Trần Nguyên Việt (2002) phân tích hạt nhân phổ biến mang tính toàn nhân loại của đạo đức trong kinh tế thị trường. Trần Đức Dương (2010) khảo sát tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên trong việc hình thành và bồi đắp lòng hiếu thảo, nhân ái, yêu nước. Ngô Đức Thịnh (chủ biên, 2014) qua thống kê, so sánh đã nêu 19 yếu tố văn hóa truyền thống và rút ra 7 giá trị tiêu biểu nhất: yêu nước, cần cù, anh hùng, sáng tạo, lạc quan, thương người, vì nghĩa.
Nhóm thứ hai gồm các công trình nghiên cứu về sự biến đổi của các giá trị đạo đức truyền thống. Tác phẩm của Nguyễn Chí Mỳ (chủ biên, 1999) luận giải sự biến đổi thang giá trị đạo đức trong cơ chế thị trường nhằm xây dựng đạo đức cho cán bộ quản lý. Luận án tiến sĩ của Nguyễn Văn Lý (2000) nhấn mạnh tính quy luật tất yếu của sự kế thừa và đổi mới giá trị đạo đức truyền thống do giai cấp thống trị chi phối. Nguyễn Đình Tường (2002) khẳng định sự biến đổi cần làm phong phú nội dung của giá trị truyền thống bằng cách tiếp thu tinh hoa nhân loại và loại bỏ yếu tố hạn chế. Nguyễn Trọng Chuẩn, Phạm Văn Đức, Hồ Sĩ Quý (đồng chủ biên, 2004) chỉ ra tính hai mặt tích cực và tiêu cực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đối với giá trị văn hóa truyền thống. Cao Thu Hằng (2004) xem xét tính thời đại và tính giai cấp của giá trị đạo đức. Phạm Văn Đức (chủ biên, 2007) phân tích sự biến động của giá trị truyền thống trong bối cảnh toàn cầu hóa ở khu vực Châu Á - Thái Bình Dương. Mai Thị Quý (2007) đi sâu vào tác động của toàn cầu hóa đối với truyền thống cần cù, tiết kiệm. Nguyễn Văn Phúc (2008) vận dụng quan niệm của C.Mác và Ph.Ăngghen về tính quy định của tồn tại xã hội đối với ý thức đạo đức. Nguyễn Duy Bắc (chủ biên, 2008), Lê Thị Tuyết Ba (2010), Nguyễn Thế Kiệt (2012) phân tích thực trạng đan xen giữa giá trị cũ và mới trong cơ chế thị trường, đề xuất định hướng xây dựng thang giá trị tiến bộ.
Nhóm thứ ba gồm các công trình nghiên cứu về thực trạng, nguyên nhân biến đổi và giải pháp. Trần Ngọc Thêm (2009) chỉ ra văn hóa Việt Nam phát triển theo lối trọng tĩnh, tiếp thu cái mới theo cách thích ứng biến báo, đồng thời chỉ ra hai đặc điểm hậu quả tiêu cực là thói tùy tiện và thói giả dối. Nguyễn Đình Tường (2006) cảnh báo nguy cơ mai một các giá trị nghĩa tình "thương người như thể thương thân", hiện tượng trượt dốc đạo đức ở giới trẻ. Nguyễn Văn Phúc (2006) nhận định sự rối loạn chuẩn mực đạo đức là tất yếu trong thời kỳ quá độ khi cơ sở kinh tế cũ mất đi nhưng chuẩn mực mới chưa hoàn thiện, kiến nghị xây dựng bảng giá trị tinh thần quốc gia. Nguyễn Thị Thanh Huyền (2007) nêu rõ tác động tiêu cực của lối sống sùng bái vật chất, cá nhân vị kỷ từ phương Tây. Lê Quý Đức và Hoàng Chí Bảo (đồng chủ biên, 2007) nhấn mạnh sự biến động thái quá và tình trạng lệch chuẩn đạo đức xã hội.
| Nhóm công trình | Tác giả tiêu biểu | Nội dung chính |
|---|---|---|
| Lý luận về giá trị và giá trị đạo đức truyền thống | Trần Văn Giàu (1993), Phan Huy Lê (1996), Trần Đình Hượu (1996), Nguyễn Trọng Chuẩn & Nguyễn Văn Huyên (2002), Ngô Đức Thịnh (2014) | Khẳng định tính bền vững của các giá trị truyền thống (yêu nước, cần cù, nhân ái...); xác định vai trò nền tảng tinh thần và động lực phát triển dân tộc. |
| Sự biến đổi giá trị đạo đức truyền thống | Nguyễn Chí Mỳ (1999), Nguyễn Văn Lý (2000), Nguyễn Trọng Chuẩn - Phạm Văn Đức - Hồ Sĩ Quý (2004), Nguyễn Văn Phúc (2008), Nguyễn Thế Kiệt (2012) | Phân tích tính tất yếu của sự biến đổi; tính giai cấp, tính thời đại và tính kế thừa có chọn lọc; sự tác động hai mặt của kinh tế thị trường và toàn cầu hóa. |
| Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp định hướng | Nguyễn Đình Tường (2002, 2006), Nguyễn Văn Phúc (2006), Lê Quý Đức - Hoàng Chí Bảo (2007), Trần Ngọc Thêm (2009) | Chỉ ra hiện tượng rối loạn chuẩn mực đạo đức thời kỳ quá độ; cảnh báo thói tùy tiện, giả dối, thực dụng; đề xuất giáo dục đạo đức, hoàn thiện pháp luật, xây dựng bảng giá trị quốc gia. |
Khoảng trống nghiên cứu mà luận án lựa chọn giải quyết là: Tiếp thu kết quả từ các nghiên cứu đi trước nhưng khắc phục tính phân tán, luận án đi trực diện vào hệ thống lý luận đạo đức học mác-xít để xác định rõ cấu trúc các giá trị đạo đức truyền thống tiêu biểu của Việt Nam; khảo sát sự biến đổi cả về nội dung, hình thức và cơ chế vận động trong giai đoạn đổi mới; từ đó đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ kết hợp kinh tế, pháp luật, giáo dục và phát huy vai trò chủ thể để định hướng sự biến đổi theo hướng tích cực.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận của luận án được xây dựng dựa trên nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin, các quan điểm của đạo đức học mác-xít, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về văn hóa, đạo đức (tiêu biểu là Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII). Tác giả vận dụng sâu sắc nguyên lý tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội; bản chất xã hội, tính giai cấp, tính dân tộc và tính thời đại của đạo đức do C.Mác và Ph.Ăngghen luận chứng; đồng thời kế thừa các thành tựu nghiên cứu khoa học xã hội trong hơn 30 năm đổi mới ở Việt Nam.
Hệ thống khái niệm công cụ được luận án xác định mạch lạc:
- Đạo đức: Là một hình thái ý thức xã hội phản ánh các quan hệ kinh tế - xã hội, gồm ý thức đạo đức, hành vi đạo đức và quan hệ đạo đức; là hệ thống các yêu cầu, quy tắc do đời sống đặt ra điều chỉnh hành vi con người một cách tự nguyện, tự giác.
- Giá trị: Là khái niệm chỉ ý nghĩa văn hóa - xã hội của các sự vật, hiện tượng tự nhiên, xã hội và tư duy; là sự thống nhất biện chứng giữa nhân tố khách quan và nhân tố chủ quan nhằm thỏa mãn nhu cầu, lợi ích của chủ thể (cá nhân, tập thể, xã hội).
- Giá trị đạo đức: Những quan điểm, tư tưởng, chuẩn mực, quy tắc ứng xử được hình thành từ thực tiễn lịch sử - xã hội, đáp ứng nhu cầu lợi ích và có ý nghĩa tích cực với đời sống, được chủ thể lựa chọn nhằm điều chỉnh, đánh giá hành vi theo tiêu chí hướng thiện, được lương tâm đồng tình và dư luận biểu dương.
- Truyền thống: Sự bảo tồn qua thời gian của các hiện tượng văn hóa - xã hội (tư tưởng, tình cảm, thái độ, hành vi, khuôn mẫu tư duy, lối sống, cách ứng xử) của một cộng đồng người, mang tính ổn định tương đối và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
- Giá trị đạo đức truyền thống: Những chuẩn mực đạo đức phổ biến, có tác động tích cực tới cộng đồng, điều chỉnh hành vi cá nhân và các mối quan hệ xã hội, được số đông thừa nhận, mang tính ổn định, ăn sâu vào tâm lý, tập quán và được trao truyền qua nhiều thế hệ.
Về phương pháp nghiên cứu, luận án sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, kết hợp chặt chẽ các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành và liên ngành: phương pháp lịch sử - lôgíc, phân tích - tổng hợp, so sánh - đối chiếu, trừu tượng hóa, khái quát hóa và phương pháp tiếp cận giá trị. Đây là nghiên cứu thuộc hướng định tính, tập trung phân tích văn bản lý luận, diễn giải khái niệm và tổng hợp tư liệu thực tiễn đời sống xã hội.
Nguồn tư liệu của luận án bao gồm các tác phẩm kinh điển của C.Mác, Ph.Ăngghen, V.I.Lênin; tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh; các văn kiện Đại hội và Nghị quyết chuyên đề của Đảng Cộng sản Việt Nam; các công trình nghiên cứu, sách chuyên khảo, bài báo khoa học, báo cáo chương trình cấp nhà nước (như Chương trình KX-07); cùng các bộ từ điển chuyên ngành như Từ điển bách khoa triết học và Từ điển tiếng Việt.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án
Chương này tập trung rà soát và đánh giá toàn diện các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo ba nhóm nội dung lớn: lý luận về giá trị đạo đức truyền thống; sự biến đổi của các giá trị đạo đức truyền thống; thực trạng, nguyên nhân và giải pháp đảm bảo biến đổi tích cực.
Từ việc tổng quan tài liệu, tác giả rút ra 5 kết luận khái quát:
- Sự biến đổi của giá trị đạo đức truyền thống là quy luật phát triển khách quan, phụ thuộc vào điều kiện kinh tế - xã hội và nhu cầu ổn định xã hội của giai cấp thống trị trong từng giai đoạn lịch sử.
- Quá trình biến đổi diễn ra đồng thời cả về mặt nội dung và hình thức biểu hiện.
- Sự biến đổi diễn ra theo cả hai chiều hướng tích cực và tiêu cực, đòi hỏi phải có sự định hướng xã hội.
- Biến đổi giá trị đạo đức truyền thống bao hàm cả sự kế thừa giá trị dân tộc và sự tiếp thu, cải biến tinh hoa văn hóa, tinh thần của nhân loại qua giao lưu tiếp biến.
- So với các hình thái ý thức xã hội khác, giá trị đạo đức truyền thống biến đổi chậm hơn, thể hiện tính bền vững cao hơn và giữ vai trò cốt lõi trong sự phát triển tinh thần của cộng đồng. Đồng thời, tác giả xác định rõ 4 vấn đề luận án đi sâu giải quyết ở các chương tiếp theo.
Chương 2: Sự biến đổi các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam – một số vấn đề lý luận cơ bản
Chương 2 dành trọn dung lượng để xây dựng khung lý luận của luận án. Tác giả phân tích nguồn gốc xã hội của đạo đức từ công xã nguyên thủy sang xã hội có giai cấp, chiết tự thuật ngữ Hán - Việt ("đạo" là quy luật, con đường sống; "đức" là nhân đức, tính người) và chỉ rõ cấu trúc ba bộ phận của đạo đức: ý thức, hành vi và quan hệ đạo đức. Tác giả phân tích tính thống nhất giữa khách quan và chủ quan của giá trị, sự hình thành thang giá trị đạo đức và chức năng định hướng hành vi của giá trị đạo đức.
Về khái niệm truyền thống, tác giả dẫn luận điểm của C.Mác trong "Ngày 18 tháng Sương mù của Lui Bônapáctơ" để chỉ ra tính hai mặt của truyền thống: vừa là bệ đỡ tinh thần nhưng cũng có thể là sức ỳ, gánh nặng cản trở nếu biến thành bảo thủ, lạc hậu. Do đó, việc khai thác truyền thống đòi hỏi phải có thái độ lọc bỏ yếu tố tiêu cực, phát huy giá trị tích cực.
Trên cơ sở đó, tác giả định nghĩa giá trị đạo đức truyền thống và đi sâu phân tích 5 giá trị tiêu biểu của dân tộc Việt Nam:
- Tinh thần yêu nước: Giá trị hàng đầu, thiêng liêng nhất, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt lịch sử dựng nước và giữ nước, tạo nên sức mạnh vô song vượt qua mọi thử thách ngoại xâm.
- Tinh thần đoàn kết và ý thức cộng đồng: Sản phẩm của hoàn cảnh khắc nghiệt phải trị thủy đắp đê, chống thiên tai và giặc ngoại xâm; gắn kết chặt chẽ cá nhân - gia đình - làng xã - Tổ quốc.
- Lòng nhân ái thương người: Thể hiện đạo lý nghĩa tình, tương thân tương ái, khoan dung, vị tha, chia ngọt sẻ bùi giữa con người với con người.
- Đức tính cần cù tiết kiệm: Phẩm chất nảy sinh từ phương thức sản xuất nông nghiệp lúa nước nhọc nhằn, tích lũy nội lực để vượt qua khó khăn, thiếu thốn.
- Tinh thần hiếu học và tôn sư trọng đạo: Sự coi trọng tri thức, tôn vinh người thầy, khát vọng vươn lên hoàn thiện nhân cách và cống hiến cho xã hội.
Chương 2 cũng làm rõ cơ chế biến đổi và biểu hiện của các giá trị này qua các thời kỳ lịch sử dân tộc dưới sự quy định của hoàn cảnh kinh tế - chính trị.
Chương 3: Thực trạng biến đổi các giá trị đạo đức truyền thống hiện nay ở Việt Nam
Chương 3 khảo sát bức tranh thực tiễn biến đổi của 5 giá trị đạo đức truyền thống từ năm 1986 đến nay, phân tách rành mạch hai xu hướng:
Về mặt tích cực, các giá trị đạo đức truyền thống được kế thừa, đổi mới và bổ sung những yếu tố mới của thời đại. Tinh thần yêu nước gắn liền với tình yêu chủ nghĩa xã hội, khát vọng phát triển kinh tế làm cho dân giàu nước mạnh, hội nhập quốc tế chủ động. Ý thức cộng đồng và tinh thần đoàn kết mở rộng ra tầm quốc gia và quốc tế, hình thành sự liên kết kinh tế năng động. Đức tính cần cù, tiết kiệm được bổ sung tính sáng tạo, năng suất, hiệu quả lao động, ứng dụng khoa học kỹ thuật và tính toán kinh tế thị trường. Lòng nhân ái được thể chế hóa qua các phong trào đền ơn đáp nghĩa, cứu trợ thiện nguyện có tổ chức. Tinh thần hiếu học gắn với việc làm chủ tri thức khoa học hiện đại, học tập suốt đời.
Về mặt tiêu cực, luận án chỉ rõ tình trạng xói mòn và suy giảm chuẩn mực ở một bộ phận dân cư:
- Chủ nghĩa cá nhân vị kỷ, lối sống thực dụng, sùng bái đồng tiền lấn át các giá trị nghĩa tình.
- Truyền thống yêu nước và ý thức cộng đồng ở một số người bị phai nhạt, dẫn đến thái độ thờ ơ, vô cảm trước vận mệnh chung.
- Lòng nhân ái bị lợi dụng hoặc bị thay thế bằng quan hệ đổi chác, sòng phẳng thái quá.
- Đức tính cần cù, tiết kiệm bị thách thức bởi lối sống lười lao động, thích hưởng thụ, xa hoa, lãng phí hoặc làm ăn chụp giật, gian lận thương mại.
- Tinh thần tôn sư trọng đạo và hiếu học bị thương mại hóa, xuất hiện hiện tượng bằng cấp giả, đạo đức giả và chạy theo thành tích ảo.
- Thực trạng đan xen hỗn loạn giữa các chuẩn mực cũ đã suy yếu nhưng chuẩn mực mới chưa định hình vững chắc gây ra tình trạng lệch chuẩn, nhiễu loạn giá trị.
Về nguyên nhân, tác giả chỉ ra nguyên nhân khách quan từ mặt trái của kinh tế thị trường, mở cửa toàn cầu hóa và quá trình chuyển đổi thể chế kinh tế; cùng các nguyên nhân chủ quan từ sự buông lỏng quản lý xã hội, công tác giáo dục đạo đức chưa theo kịp thực tiễn và việc thực thi kỷ cương pháp luật chưa nghiêm minh.
Chương 4: Một số phương hướng và giải pháp đảm bảo sự biến đổi giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam theo hướng tích cực
Chương 4 đề xuất hệ thống giải pháp xuất phát từ phương hướng gắn kết việc giữ gìn bản sắc với yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế.
Các phương hướng cơ bản gồm:
- Định hướng sự biến đổi giá trị đạo đức gắn liền với mục tiêu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
- Kết hợp hài hòa giữa kế thừa các giá trị truyền thống tốt đẹp với việc tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa, đạo đức nhân loại.
- Gắn việc xây dựng các giá trị đạo đức mới với kiên quyết đấu tranh chống sự thoái hóa, biến chất về tư tưởng, đạo đức, lối sống.
Trên cơ sở phương hướng, luận án nêu 4 nhóm giải pháp chủ yếu:
- Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, giáo dục giá trị văn hóa và đạo đức truyền thống cho toàn xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ qua sự phối hợp đồng bộ giữa gia đình, nhà trường và xã hội.
- Tăng cường xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tạo nền tảng vật chất và môi trường xã hội lành mạnh cho sự phát triển đạo đức.
- Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật và thiết chế văn hóa; tăng cường hiệu lực thực thi pháp luật để pháp luật trở thành điểm tựa bảo vệ và răn đe hành vi lệch chuẩn đạo đức.
- Phát huy tính tích cực, tự giác của các chủ thể đạo đức (cá nhân, tập thể, cộng đồng) trong việc tự rèn luyện, giữ gìn và bồi đắp chuẩn mực giá trị mới.
Kết quả và những đóng góp mới
Về mặt lý luận, luận án đã làm rõ một cách có hệ thống các khái niệm đạo đức, giá trị đạo đức và giá trị đạo đức truyền thống dưới ánh sáng của triết học và đạo đức học mác-xít. Luận án xác lập cấu trúc 5 giá trị đạo đức truyền thống tiêu biểu nhất của dân tộc Việt Nam, phân tích cơ chế kế thừa và biến đổi có tính quy luật của các giá trị này qua các thời kỳ lịch sử. Luận án khẳng định tính hai mặt tất yếu của sự biến đổi giá trị đạo đức trong bối cảnh phát triển kinh tế thị trường và toàn cầu hóa.
Về mặt thực tiễn, luận án đã phác thảo bức tranh thực trạng biến đổi của các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam từ năm 1986 đến nay; vạch rõ cả những nét biến đổi tích cực làm giàu có thêm giá trị dân tộc lẫn những biểu hiện tiêu cực suy thoái, lệch chuẩn, rối loạn giá trị. Đồng thời, tác giả đã luận giải thấu đáo các nguyên nhân khách quan và chủ quan của thực trạng đó.
Về mặt kiến nghị, luận án đề xuất hệ thống phương hướng và giải pháp đồng bộ, có tính khả thi nhằm chủ động tác động, hạn chế mặt tiêu cực và định hướng sự biến đổi của các giá trị đạo đức truyền thống theo hướng tích cực, phục vụ trực tiếp cho sự nghiệp xây dựng con người và phát triển bền vững đất nước hiện nay.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về mặt hạn chế, văn bản luận án xác định phạm vi nghiên cứu tập trung vào 5 giá trị đạo đức truyền thống tiêu biểu, do đó chưa thể bao quát toàn diện tất cả các biểu hiện của đời sống đạo đức dân tộc (như các giá trị đạo đức gia đình, đạo đức nghề nghiệp riêng biệt hay toàn bộ 19 yếu tố giá trị văn hóa truyền thống). Về phương pháp, luận án chủ yếu sử dụng phương pháp tiếp cận lý luận triết học, đạo đức học định tính kết hợp phân tích tài liệu thứ cấp, chưa tiến hành các cuộc điều tra xã hội học thực nghiệm diện rộng bằng bảng hỏi định lượng đối với từng nhóm đối tượng xã hội cụ thể.
Về hướng nghiên cứu tiếp, từ khoảng trống và phạm vi trên, các nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng khảo sát sự biến đổi thang giá trị đạo đức ở từng vùng miền đặc thù (đô thị, nông thôn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số), hoặc nghiên cứu sâu hơn về sự hình thành các giá trị đạo đức mới như đạo đức doanh nhân, đạo đức công vụ trong nền kinh tế số và bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng.
Giá trị tham khảo
Luận án có giá trị tham khảo thiết thực đối với nhiều nhóm đối tượng trong nghiên cứu và hoạt động thực tiễn:
- Đối với giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học: Công trình cung cấp tài liệu tham khảo chuyên khảo hữu ích cho việc giảng dạy và nghiên cứu chuyên ngành Đạo đức học và Triết học tại các cơ sở giáo dục đại học và sau đại học; đặc biệt là phần hệ thống hóa lý luận về bản chất, cơ chế biến đổi giá trị đạo đức truyền thống tại Chương 2 và tổng quan tài liệu tại Chương 1.
- Đối với các cơ quan quản lý văn hóa, giáo dục và người làm chính sách: Nội dung phân tích thực trạng, nguyên nhân tại Chương 3 cùng hệ thống giải pháp định hướng tại Chương 4 cung cấp căn cứ lý luận và thực tiễn để hoạch định chiến lược phát triển văn hóa, xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị con người Việt Nam thời kỳ mới, cũng như đổi mới công tác giáo dục đạo đức công dân.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án giới hạn khảo sát những giá trị đạo đức truyền thống nào của dân tộc Việt Nam?
Luận án giới hạn nghiên cứu 5 giá trị đạo đức truyền thống tiêu biểu nhất, bao gồm: tinh thần yêu nước; tinh thần đoàn kết và ý thức cộng đồng; lòng nhân ái thương người; đức tính cần cù tiết kiệm; tinh thần hiếu học và tôn sư trọng đạo.
2. Vì sao tác giả khẳng định sự biến đổi của các giá trị đạo đức truyền thống là một tất yếu khách quan?
Theo quan điểm duy vật lịch sử của Mác - Lênin, đạo đức thuộc hình thái ý thức xã hội và bị quy định bởi tồn tại xã hội (cơ sở kinh tế - xã hội). Khi phương thức sản xuất chuyển đổi sang kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, các điều kiện sinh hoạt vật chất và quan hệ xã hội thay đổi buộc các chuẩn mực đạo đức cũng phải vận động, biến đổi để tương thích.
3. Hiện tượng rối loạn chuẩn mực đạo đức trong thời kỳ quá độ được luận án giải thích như thế nào?
Hiện tượng này phát sinh do các chuẩn mực đạo đức cũ của xã hội truyền thống đang dần mất đi cơ sở kinh tế - xã hội vốn có, trong khi các chuẩn mực đạo đức mới của xã hội hiện đại đang trong quá trình hình thành, chưa đủ sức mạnh điều chỉnh phổ quát các hành vi. Sự đan xen giữa cái cũ đã lỗi thời và cái mới chưa định hình vững chắc dẫn đến tình trạng hụt hẫng, lệch chuẩn và nhiễu loạn giá trị.
4. Hai đặc điểm tiêu cực nảy sinh từ văn hóa truyền thống mà luận án lưu ý từ quan điểm của Trần Ngọc Thêm là gì?
Đó là hai đặc điểm hậu quả tiêu cực của văn hóa nông nghiệp truyền thống: thói tùy tiện và thói giả dối (đạo đức giả). Đây là những yếu tố phi giá trị cần phải được nhận diện và khắc phục dứt khoát trong quá trình hiện đại hóa xã hội.
5. Luận án đề xuất những nhóm giải pháp cơ bản nào để định hướng sự biến đổi tích cực của giá trị đạo đức truyền thống?
Luận án đề xuất 4 nhóm giải pháp: tăng cường công tác giáo dục đạo đức và truyền thống lịch sử gắn với giáo dục pháp luật; đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để tạo cơ sở vật chất lành mạnh; hoàn thiện thể chế chính sách, pháp luật và thiết chế văn hóa; phát huy tính tự giác, tích cực của các chủ thể đạo đức trong xã hội.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Sự biến đổi của các giá trị đạo đức truyền thống Việt Nam hiện nay" của tác giả Vũ Mạnh Dũng là một công trình nghiên cứu chuyên ngành Đạo đức học được triển khai nhất quán theo thế giới quan và phương pháp luận mác-xít. Luận án đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về giá trị đạo đức truyền thống, phân tích thực trạng biến đổi hai mặt dưới tác động của công cuộc đổi mới và kinh tế thị trường từ năm 1986. Công trình mang lại những luận cứ khoa học rõ ràng cùng các giải pháp có tính khả thi, đóng góp thiết thực cho công tác nghiên cứu, giảng dạy triết học và hoạch định chính sách xây dựng văn hóa, con người Việt Nam hiện nay.