phần mở đầu, mục lục, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục; phần nội dung của luận văn gồm có 03 chƣơng cụ thể nhƣ sau: Chƣơng 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu, những khái niệm cơ sở và tư liệu nghiên cứu Chƣơng 2 Nhận diện sự tương đồng và khác biệt văn hóa Việt Nam - Nhật Bản qua truyện cổ tích thần kì Chƣơng 3 Lí giải sự tương đồng và khác biệt văn hóa Việt Nam - Nhật Bản qua truyện cổ tích thần kì và ứng dụng của nghiên cứu ix C ƢƠN 1 TỔN QUAN TÌN ÌN N N CỨU, CÁC K Á N M CƠ SỞ VÀ TƢ L UN N CỨU 1. TỔN QUAN TÌN ÌN N N CỨU 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới Một số bài viết trên thế giới liên quan đến so sánh truyện cổ tích giữa hai quốc gia có thể đƣợc dẫn ra nhƣ sau: Vào năm 1995, tác giả James anandjaja đã có bài viết “Nghiên cứu so sánh về văn hóa dân gian của Nhật Bản và Indonesia”. Tác giả này đã so sánh kiểu truyện Chàng Ngưu và nàng tiên dệt vải của hai nƣớc.
Năm 2017, nhà nghiên cứu Ratu Wardarita và Guruh Puspo Negoro ở Trƣờng ại học Palembang, Nam Sumatera, Indonesia đã so sánh trực tiếp câu chuyện Jaka Taruh (Indonesia) và Tanabata (Nhật Bản) trong kiểu truyện hôn nhân người – tiên cùng nội dung kể về cuộc hôn nhân giữa chàng trai ngƣời trần và nàng tiên ở trên trời. Hai tác giả đã so sánh hai truyện trên phƣơng diện rộng hơn liên quan đến văn hóa của hai nƣớc. Một số công trình của ngƣời nƣớc ngoài viết bằng tiếng Việt nghiên cứu về truyện cổ tích hoặc có sự đối chiếu so sánh một khía cạnh nào đấy trong truyện cổ tích giữa hai nƣớc có thể đƣợc kể ra là: - Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của hiêng Xom n (1995) là “Bản chất thể loại và phân loại truyện cổ tích trên cơ sở tư liệu truyện cổ tích Việt Nam và Cam pu chia” - Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Park Yeon Kwan (2007) là: “Nghiên cứu so sánh một số type truyện cổ tích Việt Nam – Hàn Quốc”. - Luận án Tiến sĩ Ngữ văn của ƣờng Tiểu Thi (2008) là: “So sánh kiểu truyện cô Lọ Lem của một số dân tộc miền Nam Trung Quốc với kiểu truyện Tấm Cám của Việt Nam”.
1 Ở Nhật Bản, từ những năm 50 - 60, với lòng nhiệt tình và khát khao tiếp thu những thành tựu khoa học của thế giới, các nhà nghiên cứu Nhật Bản đã chú ý đến việc ứng dụng những lí thuyết của thế giới vào thực tế nghiên cứu. Nhiều thành tựu trong việc nghiên cứu truyện cổ dân gian đã đƣợc ghi nhận. Trong đó hai nghiên cứu "Phân loại và danh mục các truyện dân gian Nhật Bản" của giáo sƣ Keigo Seki và cuốn: "Bảng mục lục các tập và motif truyện cổ dân gian Nhật Bản" của tiến sĩ Hiroko Ikeda là các công trình rất thành công. Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam Ở Việt Nam, từ giữa những năm 80 đến những năm 90 của thế kỉ XX, nhiều học giả nhƣ Nguyễn ổng hi, ao Huy ỉnh, ịnh Gia Khánh, Nguyễn Tấn ắc, Lê hí Quế, hu Xuân iên, ặng Văn Lung, Tăng Kim Ngân, Nguyễn Bích Hà, Nguyễn Thị Huế, Nguyễn Thị Hiền, Phạm Thu Yến.
đã quan tâm đến việc giới thiệu và ứng dụng các thành tựu nghiên cứu của thế giới vào nghiên cứu văn học dân gian Việt Nam. Một số công trình nghiên cứu tiêu biểu của ngƣời Việt liên quan đến truyện cổ tích thần kì hoặc so sánh truyện cổ tích giữa hai quốc gia/ giữa quốc gia với khu vực có thể đƣợc kể ra nhƣ sau: Năm 1994, Tăng Kim Ngân xuất bản chuyên khảo: “Cổ tích thần kì người Việt, đặc điểm, cấu tạo, cốt truyện” (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội). Bà đã đi từ việc tìm hiểu cơ sở lí thuyết hình thái học truyện cổ tích thần kì của V.Prốp – nhà nghiên cứu Folklore ngƣời Nga đến việc ứng dụng những thành tựu của lí thuyết đó để nghiên cứu cấu tạo cốt truyện của 51 truyện cổ tích thần kì của ngƣời Việt. Trên cơ sở rút ra những nhận xét về sự tƣơng đồng và khác biệt của truyện cổ tích thần kì ngƣời Việt só với lí thuyết của hình thái học của Prốp, bƣớc đầu có lí giải nguyên nhân của sự tƣơng đồng và khác biệt đó.
Năm 2016, ƣơng Nguyệt Vân bảo vệ luận án tại Viện Hàn lâm Viện KHXH và NV với đề tài: “Chủ đề hôn nhân và sự phản ánh phong tục hôn nhân trong truyện cổ tích dân tộc Việt ”. 2 Năm 2004, Lại Phi Hùng đã xuất bản cuốn: “Những tương đồng và khác biệt trong một số kiểu truyện cổ dân gian ở Lào và Việt ” (Viện KHXH Việt Nam, Viện Nghiên cứu ông Nam Á). Ông đã dùng phƣơng pháp so sánh loại hình và chọn nghiên cứu so sánh ba kiểu truyện cổ tích tƣơng đồng của Việt Nam và Lào: kiểu truyện dũng sĩ, kiểu truyện ngƣời bất hạnh và kiểu truyện ngƣời đội lốt. Tác giả lần lƣợt tiến hành so sánh về những motif cơ bản, những motif vệ tinh; so sánh về chủ đề, cách cấu tạo hình tƣợng; so sánh kết cấu để tìm ra những nét đồng dạng và dị biệt.
Trên cơ sở so sánh những nét tƣơng đồng và khác biệt, tác giả cũng đƣa ra cơ sở lí giải nguyên nhân của sự tƣơng đồng (do giao lƣu văn hóa, do tƣ duy nghệ thuật…) và dị biệt (do khác nhau về môi trƣờng, lịch sử, địa lí, văn hóa; do tính sáng tạo) trong truyện cổ dân gian hai nƣớc Việt – Lào. Năm 2008, Nguyễn Minh Nguyên đã bảo vệ Luận văn Thạc sĩ hâu Á, Trƣờng ại học KHXH và NV Hà Nội với đề tài: “Sự tương đồng và dị biệt giữa một số truyện cổ tích Việt Nam – Nhật Bản”. Nhƣng ở luận văn này tác giả mới so sánh truyện cổ tích nói chung chứ chƣa đi sâu vào tiểu loại truyện cổ tích thần kì và cũng chƣa so sánh một cách hệ thống về khía cạnh văn hóa. Năm 2010, Nguyễn Thị Nguyệt đã xuất bản chuyên khảo: “Khảo sát và so sánh một số motif truyện cổ tích dân gian Việt Nam – Nhật Bản” (Nxb ại học Quốc gia Hà Nội).
Bà đã tiến hành khảo sát, nghiên cứu típ truyện có nhân vật tốt bụng và xấu bụng trong truyện cổ tích nói chung (không phải tiểu loại cổ tích thần kì) của Việt Nam và Nhật Bản. uốn chuyên khảo này đã phân tích ý nghĩa, cấu trúc nội dung, nội dung của 10 type truyện cổ tích của Việt Nam tƣơng đồng với 10 type truyện cổ tích của Nhật Bản thuộc nhóm type truyện này đồng thời phân tích so sánh những motif chính cấu thành nên cốt truyện và nhân vật; từ đó tìm hiểu sự tƣơng đồng và khác biệt giữa truyện cổ tích hai nƣớc cũng nhƣ lí giải nguyên nhân của sự tƣơng đồng và khác biệt đó. Năm 2020, Nguyễn Minh Thúy bảo vệ Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, ại học Sƣ phạm Hà Nội với đề tài: “Kiểu truyện người tiên trong truyện cổ Việt Nam và 3 Đông Nam Á”. Nguyễn Minh Thu năm 2020 đã bảo vệ thành công Luận án Tiến sĩ Ngữ văn với đề tài: “Kiểu truyện người – tiên trong truyện cổ tích Việt Nam và Đông Nam Á”.
ây cũng là một công trình so sánh loại hình của kiểu truyện ngƣời – tiên để thấy sự giống và khác nhau giữa truyện Việt Nam và các nƣớc trong khu vực ở góc độ nhân vật, motif, kết cấu. Năm 2021, Nguyễn Thị Thu Trang xuất bản cuốn: “Một số type truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn Độ dưới góc nhìn so sánh” (Nxb HQGHN). Mục đích nghiên cứu của cuốn sách là so sánh một số type truyện cổ tích thần kì Việt Nam và Ấn ộ từ phƣơng diện kết cấu và motif, qua đó tìm ra sự tƣơng đồng và khác biệt trong truyện cổ tích thần kì giữa hai nƣớc và ảnh hƣởng trong quá trình giao lƣu, tiếp xúc văn hóa; trên cơ sở đó tìm đƣợc nét giống và khác nhau của văn hóa hai dân tộc (Việt Nam, Ấn ộ) và văn hóa quốc tế. Ngoài ra còn một số bài báo đăng ở tạp chí chuyên ngành nghiên cứu về truyện cổ tích thần kì, đặc điểm thẩm mĩ, biểu tƣợng thẩm mĩ nhƣ: “Lí thuyết hình thái học của V.Prốp và truyện cổ tích thần kì của người Việt” năm 1991 đăng ở Tạp chí Văn hóa dân gian.
Năm 1972, tác giả Hà hâu có bài viết: “Về đặc điểm thẩm mĩ của truyện cổ tích thần kì ở Việt Nam” đăng ở tạp chí Văn học số 5. Năm 1984, ông tiếp tục có bài viết: “Về một quan niệm thẩm mĩ dân gian Việt Nam” đăng trong Tạp chí Văn hóa dân gian số 1. Năm 2019, Phạm Thu Yến viết bài nghiên cứu: “Không gian nước trong kiểu truyện hôn nhân Người – Tiên Việt Nam và Đông Nam Á – biểu tượng thẩm mĩ cùng giá trị du lịch đương đại” đăng tại Kỉ yếu Hội thảo khoa học quốc tế Văn hóa sông nƣớc ở ông Nam Á bảo tồn và phát triển (Nxb ại học ần Thơ, tr. Nhìn chung, tất cả các công trình trên đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề của truyện cổ tích nói chung và truyện cổ tích thần kì nói riêng.
Nhƣng các công 4 trình đó đều chủ yếu tập trung nghiên cứu so sánh truyện cổ tích giữa hai quốc gia (hoặc giữa quốc gia với khu vực ông Nam Á) ở các góc độ type truyện, motif, cấu tạo, cốt truyện, nhân vật… chứ chƣa có công trình nào tập trung nghiên cứu so sánh sự giống và khác nhau về văn hóa một cách hệ thống. Mặc dù vậy, những nghiên cứu kể trên cũng đã có gợi mở quý báu khích lệ chúng tôi đi sâu vào nghiên cứu đề tài luận văn Sự tương đồng và khác biệt văn hóa Việt Nam – Nhật Bản qua truyện cổ tích thần kì. Khái niệm và đặc điểm của truyện cổ tích và truyện cổ tích thần kì - Khái niệm Truyện cổ tích “Truyện cổ tích có thể đƣợc phân biệt với truyện dân gian thần thoại khác nhƣ truyền thuyết (thƣờng liên quan đến niềm tin vào tính xác thực của các sự kiện đƣợc mô tả) cũng nhƣ các câu chuyện về bài học đạo đức, bao gồm truyện ngụ ngôn về động vật.” (dẫn theo Nguyễn Thị Thu Trang, 2021) Sự khác biệt cơ bản với các loại truyện khác ở phƣơng diện ngƣời kể chuyện kể lại nó và ngƣời nghe thì tiếp nhận trƣớc hết nhƣ một sự hƣ cấu thẩm mĩ, một trò chơi của trí tƣởng tƣợng.