PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Theo sự phát triển của xã hội loài người, đời sống con người ngày càng được cải thiện. Nhu cầu giao lưu giữa người với nhau cũng đồng thời trở thành một việc rõ rang. Chính vì điều này, ngôn ngữ không nghi ngờ là công cụ giao tiếp quan trọng của loài người.
Từ đây có thể thấy, để đạt được sự nối liền về phương diện ngôn ngữ này, phiên dịch đã có vai trò tích cực quan trọng. Việt - Trung hai nước song núi liền kề, ngôn ngữ văn hóa vừa có điểm giống cũng có điểm khác biệt. Là người học tiếng Hoa, lại là sinh viên chuyên ngành tiếng Hoa, tôi cho rằng mình nên vì sự thấu hiểu, hữa nghị và hợp tác giữa 2 nước mà góp một phần công sức. Giới thiệu một cách sơ lược về phó từ Tiếng Việt và tiếng Hán, hai loại phó từ có điểm gì khác biệt? muốn tìm hiểu chúng có sự khác biệt gì, đây chính là lý do chọn đề tài của tôi, hi vọng rằng cuốn luận văn này sẽ giúp ích cho những ai đang theo học tiếng Hoa.
Lịch sử nghiên cứu đề tài Theo như người viết được biết hiện nay tại Việt Nam đã có một số tài liệu nghiên cứu về ngữ pháp nói chung và phó từ nói riêng như Ngữ pháp tiếng Hoa thực dụng do tác giả Gia Linh biên soạn, luận văn thạc sĩ Lý Hồng Khanh_ Đại học Phúc Kiến về ―So sánh phó từ tiếng Hán và tiếng Việt, luận văn thạc sĩ Đinh Thị Cúc_ Đại học Cát Lâm về ―So sánh phó từ ―又‖,―再‖và phó từ ―lại‖, luận văn Thạc sĩ Cao Thị Quỳnh Hoa_ Đại học khoa học xã hội & nhân văn về ―So sánh phó từ Hán- Việt‖ nhưng trong số ấy vẫn chưa có bài viết rõ về so sánh phó từ thường dùng và cách sử dụng của nó mà thường thì chúng là một phần nói về phân loại phó từ và chức năng ngữ pháp nói chung của phó từ tiếng Hán và tiếng Việt. Mục tiêu và những đóng góp của bài nghiên cứu Cá nhân tôi hy vọng rằng thông qua đề tài này tôi không những có thể nâng cao trình độ tiếng Hoa của bản thân, đặc biệt là trình độ phiên dịch mà còn có thể đem những tri thức học được áp dụng vào thực tiễn. Ngoài ra, tôi còn hy vọng đưa thêm một phần tài liệu tham khảo đối với các bạn có hứng thú với đề tài này. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu Đối tƣợng: Người viết chủ yếu viết về một số phó từ thường dùng trong tiếng Hán và tiếng Việt, qua đó tiến hành so sánh về một số loại phó từ có tần suất xuất hiện nhiều và lỗi sai thường gặp trong quá trình học của sinh viên học tiếng Hán.
Phạm vi: Trong quá trình học và phiên dịch tiếng Hoa, tôi phát hiện có không ít sinh viên do chịu sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ mà khi nói hoặc phiên dịch tiếng Hoa thường làm sai hoặc không dễ dàng hiểu rõ vấn đề, phó từ là một trong số đó, phó từ tiếng Hán là một bộ phận cấu tạo thành câu, chúng ta trong lúc nói viết mỗi câu thường rất ít tách khỏi bộ phận phó từ này, tần suất phó từ xuất hiện trong câu hơi nhiều. Hơn nữa trong quá trình phiên dịch, do phó từ có nhiều loại, sử dụng phức tạp cho nên phiên dịch phó từ cũng là một điểm khó. Phiên dịch phó từ nhất định phải biểu đạt được mối quan hệ logic về kết cấu giữa các trạng ngữ, như vậy câu dịch mới rõ ràng và mạch lạc. làm tốt trạng ngữ trong phiên dịch có ý nghĩa quan trọng.
cho nên tôi đã chọn ―So sánh một số phó từ thường dùng trong tiếng Hán và tiếng Việt‖ làm đề tài luận văn tốt nghiệp. Phƣơng pháp nghiên cứu Trong quyển luận văn này tôi áp dụng những biện pháp chủ yếu sau đây: trên cơ sở lý luận tôi chủ yếu áp dụng biện pháp khảo sát tổng hợp. tìm kiếm các tài liệu có liên quan, tiến hành so sánh đối chiếu , phân tích và đồng thời đưa ra kết luận. Cấu trúc của đề tài Gồm 3 chƣơng: Chƣơng I: Tổng quát và phân loại phó từ trong tiếng Hán và tiếng Việt Chƣơng II: So sánh một số phó từ thƣờng gặp trong tiếng Hán và tiếng Việt Chƣơng III: Nguyên nhân phạm lỗi sai, cách khắc phục và kiến nghị về phƣơng pháp dạy và học của sinh viên Lạc Hồng B.
NỘI DUNG CHÍNH CHƢƠNG I: TỔNG QUÁT VÀ PHÂN LOẠI PHÓ TỪ TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT 1.1 Tổng quát về phó từ tiếng Hán: 1.1 Định nghĩa và đặc trƣng ngữ pháp phó từ tiếng Hán 1.2 Phân loại và phạm vi phó từ tiếng Hán: 1.3 Tác dụng của phó từ tiếng Hán 1.2 Tổng quát về phó từ tiếng Việt: 1.1 Định nghĩa và đặc trƣng ngữ pháp phó từ trong tiếng Việt 1.2 Phân loại phó từ tiếng Việt 1.3 Tác dụng của phó từ 1.3 So sánh phó từ tiếng Việt và tiếngHoa 1.2 Về vị trí CHƢƠNG II: SO SÁNH MỘT SỐ PHÓ TỪ THƢỜNG DÙNG TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT 2. So sánh phó từ tần suất 再,又 trong tiếng Hoa và phó từ nữa, lại trong tiếng Việt 2. Phân tích so sánh về cú pháp 2.2 Phân tích so sánh về mặt ý nghĩa 2. So sánh phó từ phủ định “不” và “没” trong tiếng Hán và tiếng Việt 2.1 So sánh về cú pháp 2.2 So sánh về ý nghĩa 2.
So sánh phó từ “都”,”也” trong tiếng Hoa và phó từ “đều, cũng” trong tiếng Việt 2. So sánh phó từ phạm vi “都” trong tiếng Hán với “ đều ” trong tiếng Việt. So sánh phó từ lặp lại “也” trong tiếng Hán với “ cũng” trong tiếng Việt.4 So sánh phó từ thời gian “才”、“就” trong tiếng Hoa và phó từ “mới ,thì” trong tiếng Việt 2. So sánh phó từ chỉ thời gian “才” trong tiếng Hán với “mới” trong tiếng Việt 2.
So sánh phó từ “就” trong tiếng Hán với “thì” trong tiếng Việt CHƢƠNG III: NGUYÊN NHÂN PHẠM LỔI SAI, CÁCH KHẮC PHỤC VÀ KIẾN NGHỊ VỀ PHƢƠNG PHÁP DẠY VÀ HỌC CỦA SINH VIÊN LẠC HỒNG 3. Kết quả thống kê khảo sát việc sử dụng phó từ thƣờng dùng tại trƣờng Lạc Hồng 3. Nguyên nhân dẫn đến lỗi sai của sinh viên 3. Ảnh hƣởng của tiếng mẹ đẻ.
Ảnh hƣởng của ngoại ngữ. Kiến nghị đối với việc dạy và học phó từ tiếng Hoa cho sinh viên Lạc Hồng 3.1 Kiến nghị đối với việc học. Kiến nghị đối với giáo viên trong quá trình dạy học. PHẦN KẾT LUẬN CHƢƠNG I.
TỔNG QUÁT VÀ PHÂN LOẠI PHÓ TỪ TRONG TIẾNG HÁN VÀ TIẾNG VIỆT 1.1 Tổng quát về phó từ tiếng Hán: Phó từ tiếng Hán hiện đại có một quá trình định hình và phát triển lâu dài không kém phần phức tạp. Khởi đầu từ việc phân loại một cách chi tiết và đưa ra định nghĩa được cho là chính xác nhất vào năm 1924 Lê Cẩm Chiếu trong ―Tân chư quốc ngữ văn pháp‖ , sau đó vào những năm 70, phó từ tiếng Hán vẫn còn là một trong những loại từ mang trong mình nhiều vấn đề cần nghiên cứu nhất. Mãi đến những năm 80 của thế kỷ 20, phạm vi nghiên cứu về phó từ ngày được mở rộng và có thêm bước tiến mới, và chủ yếu thể hiện ở việc so sánh phó từ, ngữ nghĩa phó từ chỉ phương hướng, tìm hiểu phó từ, phó từ thường dùng ở nhiều góc độ. Đến nay mặt dù các công trình nghiên cứu về phó từ không ít, trong đó không thiếu những bài của các học giả uyên bác nhưng về phạm vi, tính chất, phân loại, đặc trưng tổng thể vẫn chưa tìm ra được quan điểm thống nhất.1 Định nghĩa và đặc trƣng ngữ pháp phó từ tiếng Hán Về định nghĩa phó từ trong tiếng Hán vẫn chưa có sự thống nhất, từng nhóm học giả đưa ra định nghĩa khác nhau tùy theo nhận định và kết quả nghiên cứu thu được.
Cụ thể, một số dựa trên ý nghĩa mà định nghĩa như ―phó từ là những từ chỉ động tác, hình thái, tính chất, khác biệt, hạn chế .của sự vật‖ hoặc ―phàm những từ chỉ trình độ, phạm vi, thời gian, tính khả thi, sự phủ định, không thể đơn độc chỉ tên sự vật, sự việc, con người chính là phó từ‖ (1) [ Ngữ pháp hiện đại của Trung Quốc] – Vương Lực - 1943. Một số học giả nhìn chức năng tu sức trong đoản ngữ mà định nghĩa, ― Phó từ thường tu sức cho động từ, trợ động từ, động từ thứ cấp, tính từ…‖ (2) [Bàn về ngữ pháp tiếng Hán hiện đại] – Đinh Thanh Thụ Đẳng - 1961. Một số học giả nhìn vào các góc độ công năng ngữ pháp trong câu mà định nghĩa, ―Chúng ta định nghĩa phó từ là những hư từ đảm nhận chức năng trạng ngữ‖ [Ngữ pháp giảng nghĩa] – Chu Đức Hy – 1982. Từ những ý trên ta có thể rút ra định nghĩa tổng quát như sau: Dùng trước động từ và tính từ biểu đạt trình độ, phạm vi, thời gian, sự phủ định của trạng thái, tính chất, hànhvi, động tác.
Đồng thời khái quát chức năng khái quát của phó từ như sau: + Tu sức cho động từ, tính từ. Một số phó từ có thể tu sức cho phó từ, một số ít phó từ có thể tu sức cho cả một câu. + Đảm nhiệm chức năng tu sức trong kết cấu vị ngữ của câu + Chủ yếu làm trạng ngữ Các trường hợp thường thấy, phó từ chuyên làm trạng ngữ , đặc trưng của nó chính là tương đối đơn độc, biểu hiện ở một số điểm sau: 1. Chỉ làm trạng ngữ.
Trừ một số cách dùng đặc biệt ra, chức năng cơ bản của phó từ trong câu chính là làm trạng ngữ, tu sức cho động từ, tính từ. Ví dụ: 山头忽然满起好大的云雾,又浓又湿。。。 Đáng chú ý là chỉ làm trạng ngữ không có nghĩa là chỉ tu sức cho động từ và tính từ, kỳ thực nó còn tu sức cho một số thành phần sau: a) Phó từ bộ phận. (1)这件事也就不大在意,但你还要小心一点。 Chuyện này cũng không cần để ý nhiều nhưng vẫn nên cẩn thận một chút. Lấy ví dụ để làm rõ, như câu trên phó từ ―就‖ không tu sức cho động từ ―在意‖ mà tu sức cho phó từ ―不‖ b.
Cụm chủ ngữ Ví dụ: (2)我希望你不再像我,又大家隔膜起來 Mình mong bạn không giống mình, mọi người lại xa cách bạn. Trong một số trường hợp, không thể là vị từ để làm vị ngữ, cũng không thể làm định ngữ, đây cũng điểm khác biệt giữa phó từ và tính từ. Ví dụ: ―偶然‖ và ―偶尔‖ đều có thể làm trạng ngữ, nhưng ―偶然‖ có thể làm trạng ngữ và định ngữ, còn ―偶 尔‖ thì không, nên ―偶然‖ là tính từ, còn ―偶尔‖ là phó từ. Ví dụ: (3)出现这种问题不是偶然的 Xảy ra chuyện thế này không phải do ngẫu nhiên.