mở đầu về KD gia thuyết TK: “Minh phái đặt giả thuyết với mục đích bác bó, giả thuyết này phải đặt ngược với mục dich nghiên cứu, giả thuyết nay gọi là giả thuyết không, tức là không có sự khác biệt." Khi GV yêu cau SV trình bày rõ hơn về cách đặt giả thuyết TK và nêu câu hỏi: “Lam sao mình biết gia thuyết minh đặt là đúng hay sai” thì SV đã thê hiện sự lúng túng và trả lời câu hỏi này bằng cách đưa ra một ví dụ đã được học: Vi dụ ở bai học trước, dé so sánh hiệu qua của hai phương pháp điều trị bệnh A ta so sinh tý lệ khỏi bệnh của hai phương pháp nảy bằng phép kiểm «. DL thu thập được cho thấy tỷ lệ khỏi bệnh của hai phương pháp là khác nhau, muốn chứng tỏ điều này minh đặt giá thuyết #f, đối lập với DL thực tế: Tỷ lệ khói bệnh của hai phương pháp không khác nhau, tức là H,: p, =p, và H,: p, # p,. Nếu chấp nhận H, thi kết luận hiệu quả của hai phương pháp như nhau và nếu bác bỏ H,, thì kết luận ngược lạt”. Trước khi bước vào nội dung chính của bài học, GV thực hiện pha thể chế hóa dé khang định lại về những nội dung đã thao luận.
¢ Doan 9 chính là thời điểm gặp gỡ đầu tiên với kiều nhiệm vụ Ty2: Lựa chon phép kiêm và tinh các giá trị TK. Thời điểm này điển ra thông qua lời giới thiệu của GV: Trong buổi học hôm nay, chúng ta sẽ tập trung nghiên cứu lý thuyết và thực hành giải bài toán 1: So sánh hai trung bình thực nghiệm độc lập. Đề so sánh hai trung bình ta sử dụng 2 phép kiểm là ứ và ¿. 157 Câu hỏi của GV “Van để đặt ra là làm thé nào dé so sảnh trung bình của hai dan số?" là câu hỏi quen thuộc với SV, vì họ đã có phương pháp so sánh hai tỷ lệ của dan số trong bài học trước.
Điều khác biệt trong bai học nay là “so sánh hai trung bình của dan số" ¢ Đoạn 10 là thời điểm nghiên cứu kiều nhiệm vụ 7„;. GV đóng vai trò chủ động trong thời điểm này. GV là người đặt câu hỏi và cũng là người trả lời: “Duong nhiên là chúng ta không thể khảo sát toàn bộ hai dân sé dé để tinh ra số trung bình của đặc tính cần nghiên cứu. Các em đã học phương pháp của TK rồi, đó là: Xác định cỡ mẫu, tiễn hành lay mẫu và sử dụng phương pháp KD giả thuyết TK dé so sánh hai trang bình.
GV cũng gợi mở một kỳ thuật dé giải quyết kiểu nhiệm vụ 7ụ¿: Cụ thé là ta phải lấy hai mẫu độc lập từ hai dan số đó và so sánh hai trung bình thực nghiệm nay đẻ kết luận cho bai trung bình dan số. Để thực biện điều này ta chia bài toán thành 2 trường hợp: đã biết Ø và chưa biết Ø ” Tạ; là kiều nhiệm vụ toán học vì dé giải quyết kiều nhiệm vụ nay can phái tinh toán các giá trị TK u hoặc r dựa vào các tham số TK như cỡ mẫu, trung bình, phương sai. Những tính toán nảy không khó để thực hiện bằng máy tính bỏ túi nhưng đòi hỏi SV phải cân thận và tính toán chính xác vì kết quả của các tính toán này sẽ ảnh hưởng đến kết luận cudi cùng của bài toán.« a Sah a 2, 2 sà ¢ Doan 11, 12 là thời diém làm việc với kỹ thuật. Hai kỹ thuật TH va Cio déu được GV đưa vào dé giải quyết hai tình huồng thông qua hai vi dy minh họa cho hai trường hợp đã biết phương sai và chưa biết phương sai: Tương tự trong bài toán ước lượng khoảng tin cay, o đã biết khi đã có nghiên cứu ve đặc tính X mà chúng ta dang quan tâm hoặc trong y van đã công bố rồi.
Chẳng hạn, quyền sách Các giá trị sinh học người Việt Nam bình thường thập ký 90 - Thẻ kỷ XX cho biết chiều cao trung bình cia nam thanh niên Việt Nam trên 18 tuôi 14 163 em và độ lệch chuẩn là 4 em. Trong trường hợp này, khi nghiên cứu về chiều cao của nam thanh niên Việt Nam chúng ta có thé coi như @ = 4 đã biết. Ngược lại, những nghiên cứu mới thì chưa biết œ. 158 Hai kỹ thuật T.p2 và Tra được vận hành khá tốt, đúng theo các bước đã được nêu ra: Đặt giả thuyết, tính các giá trị TK của w hoặc ? tương ứng với trường hợp đã biết phương sai hoặc chưa biết phương sai, cuối cùng là đưa ra kết luận dựa vào quy tắc quyết định bác bỏ hay không bác bỏ giá thuyết H,.
Việc tính toán các giá trị của 1 và í được thực hiện khá nhanh chóng với sự hỗ trợ của máy tính bỏ túi. Van đẻ đáng chú ý là khi trình bày lý thuyết, trong bước đặt gia thuyết TK, GV chi giới thiệu giả thuyết chính là giả thuyết hai đuôi, không trình bày gia thuyết một đuôi: “Dat giả thuyết ,: =n, và H,: 4, # ¿„”. Các giá trị ngưỡng có định như 1,96 và 2,58 trong phép kiêm wu hoặc ¿„(n, +n, =2) trong phép kiểm ¡ tương ứng với mức sai làm loại 1 là các giá trị ngưởng hai đuôi. Điều này phù hợp với quan hệ thê chế R(Iy, O) ma chúng tôi đã phân tích trong chương 4 và cũng phù hợp với hai ví dụ mà GV minh họa ngay sau đó.
e Đoạn 13 - 20 là thời điểm xây dựng môi trường công nghệ, lý thuyết cho f,2 và cáo. Thời điểm này diễn ra sôi nồi nhất vi SV rat quan tâm đến điều kiện 2s xi 4đ; : - ee A, os £ ~ £ " " thực hiện của hai phép kiểm, đặc biệt là phép kiểm z: Khi sử dung phép kiểm (, tại sao trong lý thuyết có yêu câu muốn so sánh được hai trung bình thì phải giả sử a; =o}? Thực ra nếu SV chú ý kỹ phan lý thuyết thì sẽ thấy được 2 điều kiện của phép kiểm ¿, đó là: Hai dân số A và B có PPC và hai phương sai phải đồng nhất. Ta muốn sánh hai số trung bình Hy. ft, của hai dân số A và B có phân phổi chuẩn, phương sai lần lượt là ơ¿ và chưa biết.
Muốn so sánh được thì ta phái giả sử He =Øi. Đề trả lời câu hỏi nêu trên, GV không giải thích li do tại sao phải có gia thiết o} =o? ma khang định rằng: “Do la điều kiện của phép kiểm t, nó cũng giống như điều kiện của phép kiểm u và Chỉ bình phương mà các em đã học trong bài trước đó”. GV cũng đưa ra giải pháp dé kiểm tra điều kiện hai phương sai đông nhất, đó là sử dụng phép kiêm F. Tuy nhiên, vì phép kiểm này chưa được học nên coi như điều 159 kiện phương sai đồng nhất đã thỏa mãn và như vậy SV không cần kiểm tra điều này trong ví dy về phép kiểm t đã trình bày: “bài học này chúng ta chưa có công cu nhưng trong bài học sau về phép kiểm F, chúng ta sẽ học phương pháp so sánh hai phương sai bằng phóp kiếm F°.
Phép kiếm F ding để so sánh hai phương sai mà GV nhắc tới được thực hiện rất đơn giản vi gia trị của F la ty s6 của phương sai lớn và phương sai nhỏ của hai mẫu DL ( F = SL „ theo VỊ, tr.172-173) nên sẽ hợp lí hon V1 đưa phép kiểm nay vào trước bài học so sánh hai trung bình va GV day phép kiểm F trước các phép kiểm u và /. Việc so sánh hai phương sai có thé dan đến kết luận hai phương sai không đồng nhất. Khi đó phải giải quyết bài toán so sánh hai trung bình bằng phép kiêm r như thé nào? Trong các vi dy va bai tập của V1, DL đều cho ở dang thỏa mãn các điều kiện của phép kiểm ¿. Chúng tôi dự đoán nếu cho một bai toán mà DL hai mẫu có phương sai không đồng nhất, tức là vi phạm điều kiện của phép kiểm , thì có thể sẽ có sai lam xảy ra vì với kỹ thuật hiện có ma giáo trình và GV cung cap, SV luôn mặc định điều kiện này đã thỏa mãn.
Điều này thé hiện trong giờ học khá rd khi mà ở đó GV không trình bày trường hợp DL vi phạm điều kiện phương sai không đồng nhất khi thực hiện phép kiêm 1 và cũng không có SV nao hỏi thêm về trường hop nay. Đây là một sự khác biệt giữa tri thức bac học với tri thức trong chương trình va giáo trình cũng như tri thức được dạy. Điều kiện DL có PPC có thẻ được giải thích bằng định lý giới hạn trung tâm khi cỡ mẫu khảo sát lớn hơn 30, trong trường hợp ngược lại thi sử dụng phép kiêm chỉ bình phương. Cả hai kiến thức này đã được học trong các bài học trước nhưng hau như nó là một bài toán độc lập không liên quan đến kiểu nhiệm vụ 7ạ› trong bài học này.
Trước đó SV cũng không biết thực hiện KD sự phủ hợp của DL với PPC dé làm gì vì bài toán KD sự phù hợp của DL là một ví dụ trong số nhiều ví dụ minh họa cho các ứng dụng của phép kiêm chỉ bình phương mà không có mục đích nào khác. 160 Cũng cần phải nhắc lại rằng, phép kiểm chi bình phương ma SV đã hoc trong bài học trước chỉ thực biện được khi DL đã ghép lớp, trong trường hợp DL “thé” hoặc bài toán không cho DL ma chỉ cho các giá trị về cỡ mau, trung bình, phương sai thì không thé thực hiện bằng phép kiểm chỉ bình phương. Mặt khác phép kiểm chi bình phương phải tính toán rất nhiều, nhất 1a việc tinh giá trị XS cho từng lớp DL dé tính tan số lý thuyết, nên nếu cho thời gian ít thi SV không thé hoàn thành được yêu cau này. Mặc dù giáo trình VI và GV không công bố.
nhưng nếu dùng các kỹ thuật khác nhau đẻ kiểm tra sự phù hợp của DL với PPC trong các ví dụ và bài tập của VI thì điều kiện này hoản toàn thỏa mãn. Như vậy, điều kiện DL có PPC của phép kiểm 1 có được GV nhắc đến trong phan lý thuyết (dù không tường minh). Tuy nhiên, nó không được SV nhìn nhận như một điều kiện bắt buộc của phép kiểm ¿, vì như phân tích ở trên thi DL trong các ví dụ và bài tập đều đã thỏa mãn điều kiện này.