Tổng quan luận án
Công trình “Pháp luật của Lào và Việt Nam về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân dưới góc độ so sánh” là luận án tiến sĩ luật học thuộc chuyên ngành Luật Kinh tế (mã số 9380107), được thực hiện bởi nghiên cứu sinh Khamkeng Lorbriayao tại Trường Đại học Luật Hà Nội vào năm 2023, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Vũ Thị Hồng Vân và TS. Nguyễn Thị Yến.
Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả trình bày rằng trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế, các quan hệ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã mở rộng ở cả ba cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế. Mặc dù Lào và Việt Nam đều ban hành đạo luật chuyên ngành từ năm 2010 (Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 của Lào và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 của Việt Nam), thực tiễn thi hành tại Lào cho thấy việc giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân còn nhiều hạn chế, hoạt động xây dựng pháp luật còn cứng nhắc và chưa tính toán đầy đủ các đặc thù của môi trường pháp lý nội địa. Hệ quả là số lượng tranh chấp gia tăng và quyền lợi của người tiêu dùng tiếp tục bị vi phạm; cụ thể, theo số liệu từ Cục Bảo vệ người tiêu dùng Lào (2021), số lượng tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân tại Lào giai đoạn 2017–2020 đã tăng 25% so với giai đoạn 2013–2016. Xuất phát từ sự tương đồng về bối cảnh lịch sử, chính trị - kinh tế - xã hội giữa hai nước nhưng Việt Nam có trình độ kỹ thuật lập pháp phát triển hơn, việc nghiên cứu so sánh quy định của hai hệ thống pháp luật giúp bổ sung các luận cứ khoa học để hoàn thiện pháp luật Lào, đồng thời hỗ trợ Việt Nam nhận diện các hạn chế lập pháp trên cơ sở kinh nghiệm đối sánh.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân; phân tích, đánh giá các quan hệ pháp luật và các phương thức giải quyết tranh chấp liên quan; so sánh, chỉ ra những điểm tương đồng và khác biệt trong pháp luật của Lào và Việt Nam; từ đó đánh giá thành tựu, hạn chế và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật cho cả hai quốc gia.
Câu hỏi nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu được tác giả xác định và đánh số như sau:
- Câu hỏi nghiên cứu thứ nhất: Các yếu tố nào ảnh hưởng tới pháp luật giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân tại Lào và Việt Nam hiện nay?
- Giả thuyết thứ nhất: Pháp luật giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân Lào và Việt Nam hiện nay chịu sự chi phối và ảnh hưởng của nhiều yếu tố như trình độ xây dựng nhà nước pháp quyền, trình độ phát triển kinh tế và những đặc trưng về văn hóa; việc làm rõ các yếu tố này sẽ định hướng hoạt động xây dựng và sửa đổi pháp luật phù hợp với điều kiện thực tiễn mỗi nước.
- Câu hỏi nghiên cứu thứ hai: Nội dung quy định pháp luật hiện hành về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân và thực tiễn áp dụng các quy định này dưới góc độ so sánh giữa Việt Nam và Lào hiện nay như thế nào? Đã bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng hay chưa? Từ thực tiễn so sánh cho thấy pháp luật của hai nước còn những điểm bất cập, hạn chế nào cần khắc phục, hoàn thiện?
- Giả thuyết thứ hai: Pháp luật về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân tại Việt Nam và Lào về cơ bản là đầy đủ nhưng chưa thực sự hoàn thiện, vẫn còn những bất cập, hạn chế và chưa thực sự bảo đảm tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các vấn đề lý luận và thực tiễn hệ thống pháp luật hai nước Lào và Việt Nam về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân, cùng kinh nghiệm pháp luật của một số quốc gia trên thế giới về vấn đề này.
- Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu các quy định pháp luật của Lào và Việt Nam về 05 phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân, bao gồm: thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án và khiếu nại tiêu dùng (biện pháp hành chính).
- Phạm vi thời gian: Các văn bản pháp luật và dữ liệu thực tiễn được khảo sát chủ yếu kể từ khi ban hành Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 của Lào và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 của Việt Nam đến thời điểm nghiên cứu (năm 2023).
- Phạm vi không gian: Lãnh thổ nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào và nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan tài liệu nghiên cứu trong luận án được hệ thống hóa theo 04 nhóm nội dung chuyên biệt:
Thứ nhất, nhóm các công trình nghiên cứu về nhận diện quan hệ pháp luật bảo vệ người tiêu dùng:
- Fairgrieve, Duncan và Goldberg, Richard S. (2017) với tác phẩm Product Liability (Nhà xuất bản Đại học Oxford) đã phân tích khái niệm trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp, tổng kết thực tiễn áp dụng giai đoạn 2007–2017 và các vấn đề pháp lý phát sinh trong giải quyết tranh chấp có yếu tố nước ngoài tại Mỹ, Úc, New Zealand, Canada, Pháp, Đức.
- Nguyễn Trọng Điệp (2014) với luận án tiến sĩ “Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân ở Việt Nam hiện nay” (Học viện Khoa học xã hội) đã làm sáng tỏ lý luận về quan hệ pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và phân tích nguyên lý "tính bất cân xứng" giữa các bên.
- Phôthilat Phôm Phô Thi (2015) với luận án tiến sĩ “Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Lào hiện nay” (Đại học Quốc gia Lào) đã hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về quan hệ pháp luật, vị trí của người tiêu dùng và sự cần thiết bảo vệ người tiêu dùng tại Lào.
- Giesela Ruhl (2011) với bài viết “Consumer protection in choice of law” (Tạp chí Cornell International Law Journal) tập trung vào lý thuyết bất cân xứng thông tin (Information Asymmetries) và quyền lựa chọn pháp luật của người tiêu dùng với tư cách là bên yếu thế (weaker party).
- Các công trình khác gồm: Nguyễn Thị Thư (2012) phân tích đặc điểm quan hệ pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; Lê Hồng Hạnh và Trần Thị Quang Hồng (2010) thảo luận việc có nên coi tổ chức là người tiêu dùng; Sith Ma la vông (2015) nghiên cứu chủ thể, quyền và nghĩa vụ trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Thứ hai, nhóm các công trình nghiên cứu về địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân:
- Sách “Sổ tay công tác bảo vệ NTD” (2006, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia) phân tích trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và chủ thể trong các thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính và giải quyết tranh chấp tiêu dùng.
- Iain Ramsay (2007) trong cuốn sách “Consumer Law and Policy: Text and Materials on Regulating Consumer Markets” (Hart Publishing) làm rõ vai trò của nhà nước và quyền, nghĩa vụ của các chủ thể tương ứng với từng phương thức giải quyết tranh chấp.
- Bùi Nguyên Khánh (2010) với bài viết “Phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân ở Việt Nam hiện nay - Thực tiễn và triển vọng” (Tạp chí Nhà nước và Pháp luật) so sánh địa vị pháp lý của chủ thể tiêu dùng với các quan hệ tranh chấp khác.
Thứ ba, nhóm các công trình nghiên cứu về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp:
- Các báo cáo quốc tế: Báo cáo “Cross-Border Alternative Dispute Resolution in the European Union” (2011) khảo sát cơ chế ADR tại 27 quốc gia EU; Báo cáo của Committee for Consumer Affairs (CCA - SER) đánh giá Quy định giải quyết khiếu kiện nhỏ và các chỉ thị về hòa giải của EU; Báo cáo của Law Reform Commission (2008–2014) về định nghĩa và chuẩn hóa thương lượng, hòa giải.
- Về tòa án khiếu kiện nhỏ (small claims court): Bruce Zucker và Monica Her (1985) nghiên cứu hệ thống tòa án giải quyết tranh chấp giá trị nhỏ tại Mỹ (bang Georgia xử lý dưới 15.000 USD, Nevada dưới 5.000 USD, Ohio dưới 3.000 USD); Anita Afriana, Rai Mantili, Ema Rahmawati (2022) phân tích khả năng mở rộng thẩm quyền giải quyết khiếu kiện nhỏ đối với tranh chấp tiêu dùng tại Indonesia.
- Về khởi kiện tập thể (class action / collective action): Roger Van den Bergh và Louis Visscher (2018) nghiên cứu chức năng phòng ngừa và giảm thiểu chi phí của kiện tập thể; Phan Thị Thanh Thủy (2018) phân tích kinh nghiệm ASEAN và bình luận vụ kiện Apple Inc. làm chậm iPhone để đề xuất cơ chế khởi kiện tập thể tại Việt Nam.
- Về giải quyết tranh chấp thay thế (ADR) và trực tuyến (ODR): Dương Quỳnh Hoa (2011) nghiên cứu điểm yếu về mối liên hệ hữu cơ giữa các phương thức ADR tại Việt Nam; Hieu, Kim Bui, Samuel, P. E (2021) rà soát khung pháp lý thương mại điện tử; Tran Van Nam, Nguyen Thi Nhu Quynh, Pham Duc Chung, Thomas G. Giglione (2022) chỉ ra xu hướng tăng trưởng thương mại điện tử tại Việt Nam (đạt 5 tỷ USD năm 2019, dự báo 33 tỷ USD năm 2025) dẫn đến gia tăng tranh chấp trực tuyến; Tran Van Nam, Nguyen Binh Minh, Tran Van Hai, Thomas G. Giglione (2022) đề xuất giải pháp công nghệ chuỗi khối (Blockchain), tự động hóa quy trình bằng robot (RPA) và trí tuệ nhân tạo (AI) trong ODR.
- Nghiên cứu so sánh của NaLan Thammathava (luận văn thạc sĩ) chỉ ra khoảng cách chênh lệch giữa thời hiệu khởi kiện của người tiêu dùng và thời hạn chịu trách nhiệm của nhà sản xuất tại Lào.
Thứ tư, nhóm các công trình nghiên cứu về cơ chế bảo đảm thi hành kết quả giải quyết tranh chấp:
- Nguyễn Trọng Điệp và Nguyễn Tiến Đạt (2017) đề xuất bổ sung quy định pháp luật trọng tài và cơ chế thi hành phán quyết trọng tài tiêu dùng; Trần Thị Thuận Giang và Lê Trần Quốc Công (2021) nghiên cứu các nguyên tắc hòa giải trực tuyến theo luật EU và đề xuất cơ chế công nhận kết quả hòa giải thành tại Việt Nam.
Khoảng trống nghiên cứu luận án lựa chọn giải quyết:
Mặc dù các công trình trước đây đã tiếp cận nhiều khía cạnh riêng lẻ, chưa có công trình nào ở cấp độ luận án tiến sĩ luật học tiến hành so sánh toàn diện, có hệ thống giữa pháp luật Lào và Việt Nam về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân. Luận án giải quyết khoảng trống này thông qua việc: (i) Phân tích bản chất quan hệ pháp luật tiêu dùng và làm rõ giới hạn khái niệm người tiêu dùng (bao gồm việc xem xét tổ chức có phải là người tiêu dùng hay không) và khái niệm thương nhân; (ii) Phân định tổng thể địa vị pháp lý, quyền và nghĩa vụ của các bên trong từng phương thức giải quyết; (iii) So sánh đối chiếu toàn diện 05 phương thức giải quyết tranh chấp theo luật thực định của hai quốc gia, cập nhật các quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 của Việt Nam; (iv) Phân tích cơ chế pháp lý công nhận và bảo đảm thi hành kết quả giải quyết tranh chấp ngoài tòa án (thương lượng, hòa giải) vốn đang thiếu vắng tại Lào và chưa hoàn thiện tại Việt Nam.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết của luận án được xây dựng dựa trên:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và tư tưởng của Chủ tịch Kaysone Phomvihane về nhà nước và pháp luật, đặc biệt là hệ thống các nguyên lý về xây dựng và thực hiện pháp luật.
- Hệ thống các lý thuyết chuyên ngành:
- Lý luận và thực tiễn pháp lý về 05 phương thức giải quyết tranh chấp: thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án và khiếu nại tiêu dùng.
- Lý luận về quan hệ pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và bản chất tranh chấp phát sinh từ giao dịch tiêu dùng.
- Lý thuyết về vai trò của Nhà nước trong can thiệp và điều tiết thị trường nhằm bảo đảm công bằng xã hội.
- Lý thuyết bất cân xứng thông tin (Information Asymmetry) trong giao dịch tiêu dùng, lý giải vị thế yếu của người tiêu dùng và sự cần thiết phải có quy phạm bù đắp bất lợi.
- Lý thuyết so sánh pháp luật làm cơ sở xác định hệ quy chiếu và các tiêu chí đối sánh giữa hai hệ thống pháp luật tương đồng về chính trị nhưng khác biệt về trình độ lập pháp.
Phương pháp nghiên cứu được vận dụng cụ thể theo từng chương:
- Chương 1: Sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống đa ngành, liên ngành (kết hợp khoa học pháp lý, kinh tế học và chính trị học) cùng các phương pháp phân tích, tổng hợp để làm rõ các khái niệm, đặc điểm và hệ thống văn bản.
- Chương 2: Sử dụng phương pháp luật học so sánh làm chủ đạo (so sánh quy định luật thực định theo 04 nhóm tiêu chí), kết hợp với phương pháp xã hội học pháp luật, phân tích, tổng hợp và thống kê mô tả nhằm đánh giá thực tiễn thi hành tại Lào và Việt Nam.
- Chương 3: Sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và phương pháp xã hội học pháp luật để luận giải tính khả thi của các định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật cho cả hai nước.
Nguồn tư liệu và dữ liệu:
Luận án khai thác hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định của hai quốc gia, bao gồm Hiến pháp năm 2015 của Lào, Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam; Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 của Lào, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 của Việt Nam; các luật chuyên ngành về thương mại, tiêu chuẩn, vệ sinh an toàn thực phẩm, dược phẩm; các đạo luật tố tụng như Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 của Việt Nam, Luật Tố tụng dân sự năm 2012 của Lào, Luật Giải quyết tranh chấp kinh tế năm 2018 của Lào, Luật Hợp đồng và xử lý vi phạm năm 2008 của Lào. Dữ liệu thực tiễn thi hành được thu thập từ báo cáo chính thức của Cục Bảo vệ người tiêu dùng Lào và các cơ quan quản lý chuyên trách tại Việt Nam.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân và pháp luật về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân dưới góc độ so sánh
Chương 1 xây dựng khung lý luận chung về tranh chấp tiêu dùng, các phương thức xử lý và đặc điểm của hệ thống pháp luật điều chỉnh.
1. Khái quát về tranh chấp và các phương thức giải quyết tranh chấp:
- Luận án xác định người tiêu dùng là cá nhân hoặc tổ chức mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu dùng sinh hoạt, không nhằm mục đích sinh lời hay phân phối lại trong chuỗi lưu thông. Thương nhân được nhận diện qua việc thực hiện hành vi thương mại độc lập, thường xuyên, mang tính nghề nghiệp và có đăng ký kinh doanh (dẫn chiếu Bộ luật Thương mại Pháp, Luật Thương mại Việt Nam năm 2005 và quy định của Đức đối với thương nhân đương nhiên).
- Tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân là sự bất đồng, mâu thuẫn hoặc xung đột về lợi ích, quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật tiêu dùng, trong đó người tiêu dùng là bên bị thiệt hại hoặc cho rằng mình bị thiệt hại đòi hỏi khôi phục quyền lợi. Đặc điểm của loại tranh chấp này gồm: (i) Không có yếu tố phân phối lại; (ii) Chủ thể bắt buộc là người tiêu dùng và thương nhân; (iii) Nội dung gắn liền với nghĩa vụ của thương nhân khi đưa hàng hóa, dịch vụ vào lưu thông (như khuyết tật sản phẩm, thông tin sai lệch); (iv) Thường phát sinh sau khi giao dịch đã thực hiện nhưng cũng có thể phát sinh trước khi lưu thông đại trà đối với sản phẩm thử nghiệm đặc thù; (v) Giá trị tranh chấp thường nhỏ nhưng mang tính phổ biến.
- Khái quát 05 phương thức giải quyết: Thương lượng (tự giải quyết nội bộ, không có bên thứ ba); Hòa giải (có bên thứ ba độc lập hỗ trợ tìm kiếm giải pháp); Trọng tài (tài phán phi nhà nước đưa ra phán quyết ràng buộc trên cơ sở thỏa thuận trọng tài); Tòa án (cơ quan tài phán nhà nước nhân danh quyền lực công, thủ tục chặt chẽ, bảo đảm bằng cưỡng chế nhà nước); Khiếu nại tiêu dùng (biện pháp hành chính do cơ quan quản lý nhà nước thụ lý, xử lý).
| Tiêu chí |
Thương lượng |
Hòa giải |
Trọng tài |
Tòa án |
Khiếu nại tiêu dùng |
| Bên thứ ba can thiệp |
Không có |
Có bên thứ ba (Hòa giải viên) |
Có bên thứ ba (Trọng tài viên/Hội đồng trọng tài) |
Có bên thứ ba (Hội đồng xét xử/Thẩm phán) |
Cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền |
| Tính chất thủ tục |
Phi chính thức, tự do thỏa thuận |
Phi chính thức hoặc theo quy chế hòa giải |
Bán chính thức, theo quy chế/luật trọng tài |
Nghiêm ngặt, chặt chẽ theo luật tố tụng |
Thủ tục hành chính nhà nước |
| Giá trị ràng buộc |
Thỏa thuận dân sự |
Thỏa thuận dân sự (chưa có cơ chế cưỡng chế riêng) |
Phán quyết có giá trị chung thẩm, cưỡng chế thi hành |
Bản án, quyết định có hiệu lực cưỡng chế nhà nước |
Quyết định hành chính, xử phạt vi phạm |
| Mức độ bảo mật |
Tuyệt đối |
Bảo mật cao |
Bảo mật |
Công khai (trừ trường hợp luật định) |
Công khai theo hoạt động công quyền |
2. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân:
- Khái niệm: Hệ thống các nguyên tắc và quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh quá trình giải quyết bất đồng thông qua các phương thức tương ứng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người tiêu dùng.
- Ba đặc điểm cơ bản:
- Bảo đảm quyền tự định đoạt trước hết của người tiêu dùng: Người tiêu dùng được ưu tiên lựa chọn phương thức xử lý tranh chấp, kể cả trường hợp thương nhân đã đưa sẵn điều khoản trọng tài vào điều kiện giao dịch chung hoặc hợp đồng mẫu.
- Ghi nhận thủ tục nhanh chóng, thuận lợi, kinh tế, đơn giản: Khuyến khích tối đa các biện pháp hòa giải, thương lượng nhằm giảm thiểu chi phí cho các vụ việc có giá trị tranh chấp nhỏ.
- Ghi nhận các ngoại lệ so với tố tụng dân sự truyền thống: Cho phép tổ chức xã hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tham gia tố tụng để hỗ trợ hoặc tự mình khởi kiện; áp dụng nguyên tắc chuyển dịch hoặc giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh (người tiêu dùng chỉ cần chứng minh thiệt hại, thương nhân có nghĩa vụ chứng minh mình không có lỗi hoặc hàng hóa không có khuyết tật).
3. Hệ thống văn bản pháp luật và kinh nghiệm quốc tế:
- Hệ thống văn bản được cấu trúc theo chiều ngang (theo quan hệ tranh chấp thuộc phạm vi pháp luật dân sự) và chiều dọc (theo thứ bậc hiệu lực từ Hiến pháp đến luật chuyên ngành và văn bản dưới luật).
- Kinh nghiệm quốc tế phân tích các mô hình giải quyết khiếu kiện nhỏ (như hệ thống Small Claims Court tại Mỹ và các khuyến nghị triển khai tại Indonesia) và cơ chế khởi kiện tập thể nhằm bảo vệ lợi ích công cộng, cùng xu hướng chuyển đổi sang ODR trong giải quyết tranh chấp thương mại điện tử.
Chương 2: Thực trạng pháp luật của Lào và Việt Nam về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân dưới góc độ so sánh
Chương 2 thực hiện đối sánh quy định pháp luật thực định giữa Lào và Việt Nam trên 04 trục nội dung và đánh giá thực trạng thi hành:
1. So sánh quy định pháp luật giữa Lào và Việt Nam:
- Nhận diện quan hệ pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Cả hai nước đều xác định đây là quan hệ có bản chất dân sự phát sinh từ giao dịch tiêu dùng. Tuy nhiên, phạm vi khái niệm người tiêu dùng trong luật Lào và luật Việt Nam có sự khác biệt về việc ghi nhận tổ chức hay giới hạn ở cá nhân; định nghĩa thương nhân trong luật Lào gắn chặt với việc đăng ký kinh doanh và các hành vi theo Luật Hợp đồng, trong khi Việt Nam căn cứ vào Luật Thương mại năm 2005.
- Địa vị pháp lý của các chủ thể: Pháp luật hai nước đều trao quyền khiếu nại, khởi kiện cho người tiêu dùng và quy định trách nhiệm chứng minh, cung cấp thông tin của thương nhân. Điểm khác biệt nằm ở vai trò của tổ chức xã hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng: Việt Nam ghi nhận rõ hơn quyền khởi kiện vì lợi ích công cộng của Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trong khi tại Lào vai trò của các tổ chức đại diện này còn mờ nhạt và chịu sự quản lý trực tiếp từ thiết chế công.
- Trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp:
- Thương lượng và hòa giải: Được ưu tiên hàng đầu ở cả hai nước nhưng thiếu văn bản hướng dẫn quy trình mẫu và tiêu chuẩn hòa giải viên chuyên nghiệp.
- Trọng tài: Pháp luật Việt Nam có quy định cụ thể bảo vệ người tiêu dùng trước điều khoản trọng tài soạn sẵn (cho phép người tiêu dùng lựa chọn lại tòa án); pháp luật Lào về trọng tài tiêu dùng chưa được định hình rõ nét trong Luật Giải quyết tranh chấp kinh tế năm 2018.
- Tòa án: Việt Nam đã bổ sung thủ tục rút gọn trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 áp dụng cho các vụ án có giá trị nhỏ, chứng cứ rõ ràng; Lào vẫn áp dụng thủ tục tố tụng thông thường theo Luật Tố tụng dân sự năm 2012, dẫn đến thời gian giải quyết kéo dài và chi phí không tương xứng với giá trị tranh chấp.
- Khiếu nại tiêu dùng: Cả hai nước đều duy trì cơ chế hành chính, nhưng tại Lào cơ chế này là lựa chọn chiếm ưu thế áp đảo của người dân do hệ thống tư pháp chưa tạo được sự tiếp cận thuận tiện.
- Cơ chế bảo đảm thi hành kết quả giải quyết tranh chấp: Phán quyết tòa án và trọng tài được bảo đảm bằng cơ quan thi hành án dân sự. Ngược lại, kết quả thương lượng thành và hòa giải thành ngoài tòa án chưa có cơ chế công nhận tư pháp trực tiếp tại Lào, khiến thỏa thuận dễ bị thương nhân vi phạm mà không bị cưỡng chế kịp thời.
2. Thực trạng thi hành pháp luật tại Lào và Việt Nam:
- Tại Lào: Số lượng tranh chấp tăng 25% (giai đoạn 2017–2020 so với 2013–2016). Người tiêu dùng chủ yếu dựa vào khiếu nại hành chính tại Cục Bảo vệ người tiêu dùng; các biện pháp giải quyết thay thế (ADR) và tòa án ít được sử dụng do thiếu thiết chế hỗ trợ, án phí và lệ phí tương đối cao so với giá trị tranh chấp.
- Tại Việt Nam: Các phương thức thương lượng, hòa giải diễn ra phổ biến nhưng tính ràng buộc thấp; thủ tục rút gọn tại tòa án gặp khó khăn trong việc áp dụng điều kiện thụ lý; các vụ việc khởi kiện bởi tổ chức xã hội còn hạn chế; tranh chấp thương mại điện tử bùng nổ nhưng cơ chế ODR chưa có khung pháp lý chuyên biệt đồng bộ.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật của Lào và Việt Nam về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân
Chương 3 đề xuất định hướng và các giải pháp lập pháp cụ thể cho từng quốc gia:
1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Lào:
- Về nhận diện quan hệ pháp luật: Sửa đổi Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 nhằm làm rõ tiêu chí xác định người tiêu dùng, phân định ranh giới giữa giao dịch tiêu dùng sinh hoạt và giao dịch kinh doanh; bổ sung quy định cụ thể về trách nhiệm sản phẩm đối với nhà sản xuất và chuỗi cung ứng.
- Về địa vị pháp lý chủ thể: Quy định rõ tư cách tố tụng và cơ chế ủy quyền cho các tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đứng ra khiếu nại hoặc khởi kiện đại diện; thiết lập trách nhiệm giải trình và nghĩa vụ chứng minh thuộc về thương nhân khi xảy ra lỗi sản phẩm.
- Về trình tự, thủ tục: Ban hành quy chế hòa giải tiêu dùng chuyên nghiệp; sửa đổi Luật Tố tụng dân sự để xây dựng thủ tục rút gọn áp dụng riêng cho các tranh chấp tiêu dùng có giá trị nhỏ; thiết lập quy trình tiếp nhận và xử lý khiếu nại hành chính liên thông, minh bạch.
- Về cơ chế bảo đảm thi hành: Bổ sung thủ tục tư pháp công nhận kết quả hòa giải thành ngoài tòa án, cho phép cơ quan thi hành án dân sự cưỡng chế thi hành biên bản hòa giải thành đã được tòa án công nhận.
- Giải pháp hỗ trợ: Kiện toàn bộ máy quản lý của Cục Bảo vệ người tiêu dùng Lào; miễn, giảm tạm ứng án phí, lệ phí tòa án cho người tiêu dùng; tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật và đào tạo kỹ năng giải quyết tranh chấp cho cán bộ thực thi.
2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam:
- Về nhận diện quan hệ pháp luật: Hoàn thiện các khái niệm về hành vi giao dịch trong môi trường số; mở rộng và làm rõ phạm vi các loại hình dịch vụ công ích, hàng hóa đặc thù chịu sự điều chỉnh của luật tiêu dùng.
- Về trình tự, thủ tục: Tháo gỡ các vướng mắc về điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn theo Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đối với các vụ án tiêu dùng; xây dựng khung pháp lý thí điểm cho cơ chế khởi kiện tập thể; thiết lập hành lang pháp lý cho việc áp dụng ODR, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), RPA và Blockchain trong tiếp nhận, phân loại và xử lý tranh chấp tiêu dùng trực tuyến.
- Về cơ chế bảo đảm thi hành: Tăng cường kết nối giữa thủ tục công nhận kết quả hòa giải ngoài tòa án theo Bộ luật Tố tụng dân sự với hoạt động của các trung tâm hòa giải thương mại và tổ chức xã hội.
- Giải pháp hỗ trợ: Nâng cao năng lực chuyên môn của Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về khiếu nại và giải quyết tranh chấp tiêu dùng; thúc đẩy hợp tác xuyên biên giới trong xử lý các tranh chấp thương mại điện tử quốc tế.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án xác lập những đóng góp mới về lý luận và thực tiễn:
Về mặt lý luận:
- Hệ thống hóa và luận giải sâu sắc bản chất bất cân xứng về vị thế thông tin, kinh tế và pháp lý giữa người tiêu dùng và thương nhân trong quan hệ xã hội về tiêu dùng, từ đó khẳng định tính tất yếu của việc nhà nước can thiệp bằng các quy phạm pháp luật mang tính bảo vệ bên yếu thế.
- Xác định rõ nguyên tắc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng phải được thực hiện xuyên suốt trước, trong và sau giao dịch, cũng như trước, trong và sau quá trình giải quyết tranh chấp.
- Khái quát hóa lý luận về các phương thức giải quyết tranh chấp tiêu dùng thay thế (ADR) với tính chất là các thiết chế phi nhà nước, cần bảo đảm sự hài hòa giữa việc hỗ trợ bảo vệ người tiêu dùng và việc tôn trọng nguyên tắc tự do thỏa thuận, tránh can thiệp hành chính quá mức làm tổn hại môi trường kinh doanh của thương nhân.
Về mặt thực tiễn và lập pháp:
- Cung cấp bức tranh so sánh đối chiếu toàn diện đầu tiên giữa pháp luật Lào và Việt Nam về 05 phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và thương nhân (thương lượng, hòa giải, trọng tài, tòa án, khiếu nại tiêu dùng) trên cơ sở 04 nhóm quy định cốt lõi.
- Chỉ ra các điểm nghẽn pháp lý thực tế tại Lào (thiếu thủ tục rút gọn, thiếu cơ chế công nhận hòa giải thành, tỷ lệ tranh chấp gia tăng 25%) và tại Việt Nam (vướng mắc thủ tục rút gọn, thiếu cơ chế kiện tập thể và ODR trong thương mại điện tử).
- Đề xuất hệ thống các giải pháp lập pháp và thực thi có giá trị ứng dụng trực tiếp, tạo cơ sở khoa học cho cơ quan lập pháp Lào sửa đổi Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010 và các luật tố tụng liên quan, đồng thời cung cấp luận cứ tham khảo cho việc sửa đổi pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Căn cứ vào nội dung được tác giả trình bày tại phần mở đầu và kết quả nghiên cứu, luận án còn một số vấn đề để ngỏ cần tiếp tục nghiên cứu:
- Vấn đề phạm vi chủ thể: Các quan điểm pháp lý và thực tiễn lập pháp quốc tế vẫn còn tranh luận về việc liệu khái niệm người tiêu dùng có nên mở rộng để bao hàm tổ chức hay không, cũng như ranh giới mở rộng khái niệm thương nhân đối với các chủ thể hành nghề tự do; thực tiễn áp dụng tại Lào và Việt Nam chưa đủ dữ liệu dài hạn để kiểm chứng tính tối ưu của từng mô hình.
- Vấn đề điều hòa rủi ro: Việc gia tăng các đặc quyền pháp lý cho người tiêu dùng đồng nghĩa với việc gia tăng gánh nặng và rủi ro pháp lý cho thương nhân; các tiêu chí dung hòa lợi ích này đòi hỏi phải có các nghiên cứu kinh tế - luật chuyên sâu hơn.
- Vấn đề thể chế tư pháp chuyên biệt: Đề xuất xây dựng tòa án khiếu kiện nhỏ hoặc tòa án tiêu dùng chuyên trách đòi hỏi phải sửa đổi căn bản hệ thống tổ chức tòa án và pháp luật tố tụng dân sự của Lào và Việt Nam; tính khả thi của mô hình này cần được cân nhắc kỹ lưỡng dựa trên nguồn lực tư pháp thực tế của mỗi nước.
- Vấn đề cơ chế ODR và thương mại điện tử xuyên biên giới: Luận án mới chỉ ra xu hướng mà chưa thể xây dựng bộ quy tắc tố tụng ODR hoàn chỉnh trong khuôn khổ hợp tác đa phương giữa các quốc gia ASEAN.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo học thuật và thực tiễn cho nhiều nhóm đối tượng:
- Cơ quan lập pháp và cơ quan quản lý nhà nước: Cung cấp luận cứ so sánh hữu ích cho Quốc hội và các bộ ngành hữu quan của Lào (đặc biệt là Cục Bảo vệ người tiêu dùng Lào) trong việc sửa đổi Luật Bảo vệ người tiêu dùng năm 2010, Luật Tố tụng dân sự năm 2012 và Luật Giải quyết tranh chấp kinh tế năm 2018. Đồng thời, là nguồn dữ liệu đối sánh cho các nhà lập pháp Việt Nam khi đánh giá tác động chính sách bảo vệ người tiêu dùng.
- Cơ sở đào tạo và nghiên cứu: Là tài liệu chuyên khảo cho giảng viên, học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Dân sự và Tố tụng dân sự, Luật So sánh tại Lào và Việt Nam khi nghiên cứu về pháp luật tiêu dùng và các cơ chế giải quyết tranh chấp thay thế.
- Các tổ chức xã hội và thiết chế giải quyết tranh chấp: Giúp các tổ chức xã hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, các trung tâm trọng tài (như VIAC), trung tâm hòa giải (như VMC) và đội ngũ luật sư nhận diện rõ hơn vị thế pháp lý của người tiêu dùng, từ đó nâng cao hiệu quả hỗ trợ pháp lý và đại diện bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong thực tế.
Câu hỏi thường gặp
1. Tại sao nghiên cứu sinh người Lào lại lựa chọn pháp luật Việt Nam làm hệ quy chiếu so sánh trong đề tài này?
Tác giả giải thích rằng Lào và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng về bối cảnh lịch sử, chế độ chính trị và định hướng kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, trình độ lập pháp của Việt Nam phát triển sớm hơn và có hệ thống quy phạm tương đối hoàn thiện hơn. Việc so sánh với pháp luật Việt Nam giúp các nhà nghiên cứu và lập pháp Lào tiếp thu có chọn lọc các giải pháp pháp lý thành công, đồng thời tránh được những thử nghiệm lập pháp chưa hiệu quả mà Việt Nam đã trải qua, tiết kiệm chi phí lập pháp.
2. Tác giả luận án xác định các đặc điểm pháp lý cơ bản của pháp luật giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân là gì?
Pháp luật giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân mang 03 đặc điểm cơ bản: (i) Đảm bảo quyền tự định đoạt trước hết của người tiêu dùng (quyền ưu tiên lựa chọn phương thức giải quyết ngay cả khi có điều khoản trọng tài soạn sẵn); (ii) Ghi nhận quyền lựa chọn phương thức giải quyết nhanh chóng, thuận lợi, kinh tế và đơn giản; (iii) Ghi nhận các ngoại lệ so với nguyên tắc tố tụng dân sự truyền thống, bao gồm quyền khởi kiện của tổ chức xã hội bảo vệ người tiêu dùng và cơ chế giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh cho người tiêu dùng.
3. Tình hình tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân tại Lào trong giai đoạn 2017–2020 diễn biến như thế nào theo dữ liệu của luận án?
Dẫn báo cáo năm 2021 của Cục Bảo vệ người tiêu dùng Lào, luận án chỉ ra rằng trong giai đoạn 2017–2020, số lượng tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân tại Lào đã tăng 25% so với giai đoạn 2013–2016. Hầu hết các tranh chấp này được giải quyết thông qua biện pháp hành chính (khiếu nại tiêu dùng), trong khi các phương thức giải quyết tranh chấp thay thế và tòa án còn rất ít được sử dụng.
4. Luận án chỉ ra điểm nghẽn pháp lý lớn nhất đối với phương thức hòa giải ngoài tòa án tại Lào và Việt Nam là gì?
Điểm nghẽn lớn nhất là sự thiếu vắng cơ chế bảo đảm thi hành kết quả hòa giải thành. Khác với phán quyết của tòa án hay phán quyết của trọng tài thương mại được bảo đảm bằng quyền lực cưỡng chế nhà nước thông qua cơ quan thi hành án dân sự, thỏa thuận hòa giải thành ngoài tòa án về bản chất vẫn chỉ là một thỏa thuận dân sự. Khi một bên không tự nguyện thực hiện, bên kia không thể trực tiếp yêu cầu cơ quan thi hành án cưỡng chế mà phải tiếp tục khởi kiện ra tòa án, làm mất đi tính kinh tế và nhanh chóng của phương thức hòa giải.
5. Các công nghệ mới nào được luận án ghi nhận có thể ứng dụng trong giải quyết tranh chấp trực tuyến (ODR)?
Luận án dẫn chiếu công trình nghiên cứu của Trần Văn Nam và cộng sự (2022) để chỉ ra rằng công nghệ chuỗi khối (Blockchain) có thể được ứng dụng để xác thực chứng cứ và hạn chế giả mạo thông tin giao dịch, trong khi quy trình tự động hóa bằng robot (RPA) và trí tuệ nhân tạo (AI) giúp phân loại hồ sơ, rút ngắn thời gian xử lý và đưa ra các đề xuất giải quyết tranh chấp trực tuyến một cách chính xác, tiết kiệm chi phí cho các tranh chấp thương mại điện tử giá trị nhỏ.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Khamkeng Lorbriayao đã giải quyết một cách có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân dưới góc độ luật học so sánh giữa Lào và Việt Nam. Công trình đã làm rõ bản chất bất cân xứng vị thế trong quan hệ tiêu dùng, phân tích thực trạng 05 phương thức giải quyết tranh chấp và chỉ ra các rào cản lập pháp cũng như thực thi tại hai quốc gia. Hệ thống các giải pháp hoàn thiện được đề xuất bám sát đặc thù kinh tế - xã hội của Lào và Việt Nam, đóng góp cơ sở khoa học quan trọng cho tiến trình cải cách pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và hiện đại hóa thủ tục tư pháp dân sự trong khu vực.