Chương 1: Những vấn đề lý luận về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân và pháp luật về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân dưới góc độ so sánh. Chương 2: Thực trạng pháp luật của Lào và Việt Nam về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân dưới góc độ so sánh. Chương 3: Hoàn thiện pháp luật của Lào và Việt Nam về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân. - Danh mục tài liệu tham khảo.
10 PHẦN TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN Trên cơ sở thống kê, tìm hiểu các công trình nghiên cứu cho thấy, “Pháp luật của Lào và Việt Nam về giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân dưới góc độ so sánh” là đề tài chưa được nghiên cứu ở trình độ Tiến sĩ Luật học, nhưng đã có một số công trình nền tảng cho việc nghiên cứu này. Bám sát mục tiêu, phạm vi nghiên cứu của công trình, trong phạm vi tiểu mục này, tác giả sẽ khái quát hệ thống các công trình nghiên cứu khoa học có liên quan đến luận án theo các nhóm công trình sau đây: 1. Các công trình nghiên cứu về nhận diện quan hệ pháp luật bảo vệ ngƣời tiêu dùng - Cuốn sách Product Liability của nhóm tác giả Fairgrieve, Duncan & Goldberg, Richard S (2017, phát hành bởi Oxford University Press).
Tại nhiều quốc gia, khái niệm “bảo vệ NTD” hay còn được hiểu là “trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp”. Trong cuốn sách này, các học giả đã đưa ra khái niệm về trách nhiệm sản phẩm (Product Liability), cập nhật đầy đủ các quy định của pháp luật và những trường hợp áp dụng điển hình trong 10 năm từ 2007 tới năm 2017 và tác động của nó tới hoạt động bán hàng nội địa và xuyên quốc gia. Đồng thời, cuốn sách này cũng có những nghiên cứu về quy định trách nhiệm sản phẩm trong luật của Mỹ, Úc, New Zealand, Cannada, Pháp và Đức, đưa ra những phân tích đầy đủ về các vấn đề nảy sinh trong GQTC có yếu tố nước ngoài bằng con đường tòa án như vấn đề thẩm quyền và lựa chọn pháp luật để áp dụng. - Luận án Tiến sĩ Luật học với đề tài “Giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân ở Việt Nam hiện nay” của tác giả của Nguyễn Trọng Điệp (2014, Học viện Khoa học xã hội).
Nội dung công trình này đã hệ thống hóa những vấn đề lý luận về tranh chấp giữa NTD với thương nhân, đồng thời bổ sung các khái niệm, quan điểm lý luận mới liên quan tới “tính bất cân xứng” trong quan hệ pháp luật BVQLNTD và xử lý, điều hòa nguyên tắc đặc thù này thông qua các quy phạm pháp luật có liên quan trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu, lý luận và thực tiễn thành công trên thế giới. 11 - Luận án Tiến sĩ của Phôthilat Phôm Phô Thi (2015), “Hoàn thiện pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Lào hiện nay”, Đại học Quốc gia Lào. Trong công trình, tác giả đã một cách có hệ thống khái niệm về NTD, quan hệ pháp luật BVQLNTD, pháp luật bảo vệ NTD; phân tích vị trí vai trò của NTD cũng như sự cần thiết phải bảo vệ NTD; làm rõ bản chất của quan hệ pháp luật BVQLNTD, vị trí và vai trò của pháp Luật BVQLNTD trong hệ thống pháp luật, giải quyết một cách thỏa đáng những vấn đề mang tính lý luận của pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD, đồng thời xác định được những nội dung không thể thiếu được coi là nội hàm mà lĩnh vực pháp luật này buộc phải có. Mặc dù GQTC BVQLNTD chỉ được đề cập đến với tư cách một khía cạnh nhỏ, nhưng những nội dung này vô cùng quan trọng, là nền tảng để tác giả hệ thống pháp luật Lào về GQTC giữa NTD và thương nhân, làm cơ sở cho việc so sánh với pháp luật Việt Nam về vấn đề này.
- Bài viết “Consumer protection in choice of law” của tác giả Giesela Ruhl (2011, Tạp chí Cornell International Law Journal, Tập 44, Số 3, trang 570 - 601), Tác giả đề cập tới quyền lựa chọn pháp luật trong hoạt động bảo vệ NTD như một quan điểm, ý tưởng pháp lý mới mẻ được xây dựng từ những năm 50 của thế kỷ trước. “NTD vốn bị coi là bên yếu thế (weaker party) trong quan hệ mua bán hàng hóa, dịch vụ với đối tác là những người kinh doanh chuyên nghiệp vì thiếu khả năng bảo vệ các lợi ích của mình do sự lép vế về quyền thương lượng. Giesela Ruhl cũng đề cập tới lý thuyết bất cân đối về thông tin (Information Asymmetries). Đồng thời, học giả đưa ra một thực tế là hiện nay pháp luật nhiều quốc gia đã đưa vào áp dụng quyền lựa chọn pháp luật của NTD theo nhiều cách như: ấn định trực tiếp quyền chọn, hạn chế quyền chọn của bên cung ứng hàng hóa, hoặc đưa ra các chuẩn tối thiểu trong điều khoản lựa chọn pháp luật”.
- Bài viết “Đặc điểm của quan hệ pháp luật BVQLNTD và pháp Luật BVQLNTD” của tác giả Nguyễn Thị Thư (2012, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 10/2012, trang 15 - 22), nêu những đặc điểm chính của quan hệ pháp luật BVQLNTD và pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD, là cơ sở để nhận diện và phân biệt giữa quan hệ pháp luật BVQLNTD với các loại quan hệ pháp luật khác. - Bài viết “Luật Bảo vệ NTD có nên quy định tổ chức là NTD” của nhóm tác giả Lê Hồng Hạnh và Trần Thị Quang Hồng (2010, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 20/2010, Văn phòng quốc hội, trang 14 - 20). Nhóm tác giả đã đưa ra phân tích 12 và bình luận về chủ thể của quan hệ pháp luật BVQLNTD hiện hành, đồng thời phân tích 2 mặt ý kiến ủng hộ và phản đối đối với quan điểm coi tổ chức là NTD. - Bài viết “Pháp luật bảo vệ NTD trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay” của tác giả Sith Ma la vông (2015, Tạp chí Alunmay, số 5/2015, trang 30-35).
Tác giả đã hệ thống lý luận về chủ thể, quyền và nghĩa vụ của chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật bảo vệ quyền lợi của NTD. Trong phạm vi nhất định có sự so sánh với quy định của một số quốc gia được dẫn chiếu. Các công trình nghiên cứu về địa vị pháp lý của các chủ thể trong quan hệ giải quyết tranh chấp giữa ngƣời tiêu dùng với thƣơng nhân - Cuốn sách “Sổ tay công tác bảo vệ NTD” (2006, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia). Đây là công trình dành cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, các cá nhân có nhiệm vụ quyền hạn trong công tác bảo vệ quyền lợi NTD.
Nội dung công trình này, về cơ bản, đã khái quát được tầm quan trọng của công tác bảo vệ quyền lợi NTD, quy trình thủ tục khiếu nại, giải quyết khiếu nại vi phạm pháp luật về BVQLNTD bằng biện pháp hành chính (sau đây gọi là khiếu nại tiêu dùng), GQTC về tiêu dùng. Trong đó, chỉ ra trách nhiệm của các chủ thể tham gia trong mỗi phương thức GQTC dưới dạng nêu và phân tích quy định của pháp luật hiện hành. - Cuốn sách “Consumer Law and Policy: Text and Materials on Regulating Consumer Markets” của tác giả Iain Ramsay (2007, phát hành bởi Hart Publishing). Tác giả đề cập sâu sắc về vai trò của Nhà nước trong hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD, các quan điểm, chính sách về pháp luật bảo vệ NTD ở nhiều quốc gia trên thế giới trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế.
Trong phần nội dung về pháp luật GQTC, cuốn sách đã phân tích quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia tương ứng với mỗi phương thức (tuy nhiên, dung lượng này không nhiều, chỉ dừng lại ở kiến thức cơ bản). - Bài viết “Phương thức giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng với thương nhân ở Việt Nam hiện nay - Thực tiễn và triển vọng” của tác giả Bùi Nguyên Khánh (2010, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 11(271), trang 44 - 52). Bài viết phân tích cơ sở lý luận và khái quát đặc điểm của các phương thức GQTC giữa NTD với thương nhân theo pháp luật Việt Nam, trình bày và phân tích địa vị pháp lý của các chủ thể tham gia vào mỗi phương thức. Tác giả có sự so sánh với quy định GQTC đối với các quan hệ pháp luật khác của mỗi phương thức GQTC cụ thể.
Các công trình nghiên cứu về trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp giữa ngƣời tiêu dùng với thƣơng nhân - “Báo cáo “Cross-Border Alternative Dispute Resolution in the European Union”, Directorate General for Internal Policies: Báo cáo là kết quả nghiên cứu được thực hiện vào năm 2011 cung cấp cái nhìn khái quát về cơ chế ADR hiện có tại tất cả 27 quốc gia thành viên Liên minh Châu Âu, đồng thời đánh giá hiệu quả vận hành của các cơ chế giải quyết các vụ việc quốc tế thông qua ADR. - Báo cáo “Alternative consumer dispute resolution in the EU”, Committee for Consumer Affairs (CCA) - Social and Economic Council (SER): Báo cáo nhìn nhận các cơ chế hiện tại như Quy định thành lập trình tự giải quyết vụ việc khiếu kiện nhỏ của EU (the Regulation establishing a European Small Claims Procedure); Nghị quyết về thương lượng (the Mediation Directive) và Nghị quyết về bảo vệ lợi ích NTD (the Injunctions Directive) chưa tạo nên chuyển biến thực sự tích cực trong hoạt động GQTC BVQLNTD ở Châu Âu. Theo báo cáo, rào cản lớn nhất trong việc sử dụng cơ chế phối hợp ADR đối với các vụ việc vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ chính nằm ở sự thiếu các thông tin cần thiết về địa lý, lĩnh vực, đặc điểm giao dịch đặc biệt trong hoạt động thương mại điện tử. - Báo cáo “Alternative Dispute Resolution: Mediation and Conciliation”, Law Reform Commission: Nằm trong Chương trình cải cách luật pháp thứ ba giai đoạn 2008-2014 và dựa trên Sách tham khảo về GQTC thông qua biện pháp thay thế.
Báo cáo tập trung vào ba nhóm vấn đề khuyến nghị. Thứ nhất, báo cáo đề cập tới sự tham gia của Ủy ban Cải cách Luật pháp vào quá trình luật hóa ADR thông qua các định nghĩa về thương lượng, hòa giải; các nguyên tắc chung liên quan tới các phương thức này. Thứ hai, báo cáo tập trung vào việc áp dụng thương lượng, hòa giải trong một số lĩnh vực đặc biệt như: tranh chấp pháp luật về gia đình, thương mại, sở hữu. Và thứ ba liên quan tới quá trình tập huấn và luật hóa các quy định về ADR chuyên nghiệp”.