ĐẶT VẤN ĐỀ Trên thế giới, ngô là một trong những cây ngũ cốc quan trọng, diện tích đứng thứ 3 sau lúa mì và lúa nước; sản lượng thứ hai và năng suất cao nhất trong các cây ngũ cốc. Năm 1961, diện tích ngô toàn thế giới đạt 105,5 triệu ha, năng suất 19,4 tạ/ha, sản lượng 205 triệu tấn, đến năm 2009, diện tích trồng ngô thế giới đạt khoảng 159,5 triệu ha, năng suất bình quân 51,3 tạ/ha, sản lượng 817,1 triệu tấn. Trong đó Mỹ, Trung Quốc, Braxin là những nước đứng đầu về diện tích và sản lượng. Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực quan trọng thứ hai sau cây lúa và là cây màu quan trọng nhất được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau, đa dạng về mùa vụ gieo trồng và hệ thống canh tác.
Cây ngô không chỉ cung cấp lương thực cho người, vật nuôi mà còn là cây trồng xóa đói giảm nghèo tại các tỉnh có điều kiện kinh tế khó khăn. Sản xuất ngô trong những năm gần đây của Việt Nam tăng rất nhanh. So với năm 2000, sản lượng ngô năm 2015 tăng gấp 2,6 lần và năng suất tăng gấp đôi với 95% là giống ngô lai. Tuy nhiên năng suất đạt 44,8 tạ/ha vẫn thấp so với trung bình của thế giới ( 54,1 tạ/ha).
Năm 2015 chúng ta phải nhập một lượng lớn hạt giống cũng như ngô thương phẩm(7,6 triệu tấn) nhiều hơn toàn bộ ngô chúng ta sản xuất ra(5,28 triệu tấn). Theo Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn năm 2014 Việt Nam nhập 4,61 triệu tấn trị giá 1,2 tỷ USD. So với năm 2014, năm 2015 nhập khẩu của Việt Nam tăng 1,65 lần về lượng và 1,37 lần về giá trị. Mười một tháng đầu năm 2016 nhập khẩu đạt 7,64 triệu tấn với giá trị 1,51 tỷ USD tăng 13,4% về khối lượng và tăng 2,9% về giá trị so với cùng kỳ năm 2015.
Ở các vùng đồng bằng sông Hồng với đặc điểm địa hình chủ yếu là những cánh đồng bằng phẳng và điều kiện khí hậu và thuỷ văn thuận lợi cho việc thâm canh tăng vụ trong sản xuất nông nghiệp. Về diện tích và tổng sản lượng lương thực, Đồng bằng sông Hồng chỉ đứng sau Đồng bằng sông Cửu Long. Hầu hết các tỉnh ở Đồng bằng sông Hồng đều phát triển một số cây trồng đem lại hiệu quả kinh tế lớn như các cây ngô, khoai tây, su hào, bắp cải, cà chua. Tại tỉnh Thái Bình thực tế từ những năm đổi mới cho đến nay, sản xuất nông nghiệp của tỉnh đã giành được nhiều thắng lợi, tương đối toàn diện cả về trồng trọt, chăn 1 c nuôi, nó còn là đòn bẩy cho ngành công nghiệp chế biến, dịch vụ… phát triển tương đối mạnh cả về chất và lượng.
Bộ mặt nông thôn Thái Bình đã có nhiều khởi sắc đáng ghi nhận trong nhiều lĩnh vực kinh tế, đời sống, văn hóa và xã hội. Thái Bình là tỉnh nằm trong vùng sản xuất lương thực, thực phẩm lớn của Vùng đồng bằng sông Hồng. Điều kiện tự nhiên sinh thái của tỉnh tạo nhiều thuận lợi cho phát triển nông nghiệp toàn diện, cơ cấu cây trồng vật nuôi phong phú, đa dạng. Từ những năm đổi mới cho đến nay, ngành nông nghiệp của tỉnh Thái Bình có tốc độ tăng trưởng khá và luôn giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong việc nuôi sống đại bộ phận dân cư nông nghiệp và ổn định xã hội.
Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay diện tích, năng suất các giống Ngô đang có xu hướng giảm dần, người dân canh tác trồng lúa cho thu nhập thấp. Vấn đề cần đặt ra là phát triển nông nghiệp theo hướng nào cũng luôn phải dựa trên quan điểm tạo ra nhiều của cải nhất, nuôi sống được nhiều người nhất trên cơ sở phấn đấu hiện đại hóa nông nghiệp. Hiện nay tốc độ gia tăng dân số ngày càng tăng và đang là vấn đề được xã hội quan tâm, công nghiệp hóa hiện đại hóa càng phát triển thì quỹ đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp ,vấn đề giải quyết nhu cầu lương, thực phẩm đang trở thành một trong những thách thức trong việc phát triển kinh tế xã hội. Để giải quyết vấn đề này có hai hướng cơ bản là: một là nâng cao năng suất chất lượng cây trồng bằng các giống mới ưu thế lai ; hai là nâng cao hiệu quả sản xuất cây trồng trên đơn vị diện tích, luân canh tăng vụ.
Theo quan điểm của các nhà khoa học hiện nay, việc tăng năng suất cây trồng chủ yếu dựa vào giống, vào phân bón. Giống được coi là động lực chính để tăng năng suất và sản lượng. Ngô lai là minh chứng điển hình nhất, đó là sự thành công trong việc ứng dụng con lai F1 trong sản xuất nông nghiệp. Việc sử dụng các giống ngô lai thay cho các giống ngô thụ phấn tự do trong sản xuất đã mang lại những kết quả to lớn trong việc tăng nhanh về diện tích cũng như sản lượng ngô ở nước ta.
Tốc độ tăng trưởng ngô qua các năm của nước ta như sau: Năm 1990 có diện tích là 432 nghìn ha, năng suất đạt 1,55 tấn/ha; vào năm 2000 thì diện tích ngô là 730,2 nghìn ha , năng suất đạt 2,51 triệu tấn/ha; đến năm 2013 thì diện tích đã là 1.172,5 nghìn ha và năng suất đạt 4,43 triệu tấn/ha (Tổng cục thống kê, Bộ NN & PTNT). Với mục đích đánh giá và tuyển chọn được một số công thức ngô lai mới có năng suất cao, chất lượng tốt, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện ngoại cảnh, thích hợp cho nhiểu điều kiện sinh thái, khả năng thích ứng rộng, tăng nguồn thu nhập cho người nông dân khi canh tác trên cùng một đơn vị diện tích, góp phần 2 c làm phong phú thêm nguồn tạo giống ngô lai cho sản xuất nông nghiệp hàng hóa trên địa bàn tỉnh Thái Bình và sự hướng dẫn của thầy PGS.Nguyễn Thế Hùng tôi tiến hành đề tài: " So sánh khả năng sinh trưởng và năng suất của một số tổ hợp Ngô lai tại Quỳnh Phụ - Thái Bình”. MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI 1. Mục đích + Xác định được một số tổ hợp lai tốt thông qua quá trình so sánh đánh giá đặc tính nông sinh học, năng suất để có căn cứ tiếp tục khảo nghiệm đánh giá, gửi cơ quan khảo kiểm nghiệm quốc gia để sớm có điều kiện để công nhận giống ngô lai mới.
+ Lựa chọn được 1-2 tổ hợp lai triển vọng làm nguồn vật liệu tạo giống ngô lai mới phục vụ sản xuất tại tỉnh Thái Bình nói riêng và vùng đồng bằng Sông Hồng theo phương thức Ngô xuân – Lúa mùa – Ngô vụ đông. Yêu cầu + Tiến hành bố trí thí nghiệm trên đồng ruộng, theo dõi và đánh giá các chỉ tiêu, từ đó chọn ra các THL lai ưu tú phục vụ cho công tác chọn tạo giống ngô. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, SỬ DỤNG NGÔ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM 2.1 Tình hình nghiên cứu, sử dụng ngô trên thế giới Xu hướng phát triển cây ngô trên thế giới có những thay đổi đáng chú ý, năm 2001, diện tích là 140,20 triệu ha, năng suất trung bình 4,3 tấn / ha và tổng sản lượng 600 triệu tấn; Năm 2010, tương ứng đạt 155,93 triệu ha, 5,35 tấn/ ha, và 835 triệu tấn, trong đó các nước đang phát triển đóng góp vào 383,6 triệu tấn (45,9%) (FAOSTAT, 2012), trong khi diện tích ngô của khu vực này chiếm khoảng 73% /tổng diện tích ngô thế giới (Prasanna, 2011), các nước phát triển đạt 415,40 triệu tấn (54,1%). Thành phần dinh dưỡng có trong 100 gr hạt ngô Khối Khối Thành Khối Thành phần Thành phần lượng lượng phần lượng Năng lượng 86 Kcal Alanine 0.348 g Potassium 270 mg Pantothenic 0.717 mg Lutein 644 μg acid (B5) zeaxanthin Phosphorus 89 mg Thiamine (B1) 0.155 mg Folate (B9) 42 μg Vitamin C 6.093 mg Vitamin A 9 μg Niacin (B3) 1.055 mg (B2) Magnesium 37 mg Iron 0.46 mg Nguồn: en.org Nhờ đa dụng nên ngô là một trong những ngũ cốc rất được quan tâm.
Vụ mùa 2012/2013, toàn thế giới có diện tích trồng ngô là 176 triệu ha, tỷ lệ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) tính từ năm 2004 đến nay là 2,2% (BĐ 2.1); sản 4 c lượng ngô ước đạt 863 triệu tấn, vượt xa các loại cây trồng khác như lúa gạo (466 triệu tấn), lúa mì (655 triệu tấn), có tỷ lệ tăng trưởng CAGR là 3,4%. Mức tăng ngoạn mục phải kể đến là năng suất trồng ngô ở một số nước như Chi Lê, New Zealand: 12 tấn/ha, Mỹ: 10 tấn/ha và Thụy Sỹ, Thổ Nhĩ Kỳ, Canada đều đạt 9 tấn/ha, trong khi năng suất bình quân trong 10 năm qua của thế giới chỉ khoảng trên dưới 5 tấn/ha. USDA (2011) ước tính rằng trên thế giới sản xuất ngô niên vụ 2011/2012 đạt 876 triệu tấn, tăng 3,8 % so với năm 2010.1: Sản lượng ngô thế giới trong năm 2004 – 2014. Nguồn: KPMG India Private Limited, India Maize Summit, 2014, USDA Dự báo từ năm 2011 đến năm 2050, nhu cầu về ngô ở các nước đang phát triển sẽ tăng gấp đôi, và đến năm 2025 ngô sẽ trở thành cây trồng có nhu cầu sản xuất lớn nhất trên toàn cầu và ở các nước đang phát triển (CIMMYT, 2011).
Hạt Ngô có thành phần dinh dưỡng phong phú gồm protein, vitamin, khoáng chất, chất xơ, chất béo, và giàu năng lượng (Bảng 2.1),… vì thế ngô được sử dụng rất phổ biến để làm thực phẩm, thức ăn gia súc; ngoài ra, nó còn được sử dụng trong rất nhiều sản phẩm công nghiệp như dược phẩm, nhựa, cao su, keo dán, sơn, vải, xà bông, pháo bông, nhuộm, sợi thủy tinh,…đặc biệt là sản xuất nhiên liệu sinh học trong những năm gần đây. Năng suất trồng ngô ở một số nước, năm 2014 Năng suất Năng suất Quốc gia Quốc gia (Tấn/ha) (Tấn/ha) Chi Lê 12 Pakistan 4 New Zealand 12 Nam Phi 4 Mỹ 10 Thái Lan 4 Thụy Sỹ 9 Campuchia 4 Thổ Nhĩ Kỳ 9 Myanmar 4 Canada 9 Indonesia 3 Ai Cập 8 Cuba 3 Eu-27 7 Philipines 3 Argentina 7 Peru 3 Đài Loan 7 Mexico 3 Malaysia 6 Nigeria 2 Úc 6 Afghanistan 2 Trung Quốc 6 Ấn độ 1 Lào 5 Nhật 1 Hàn Quốc 5 Angola 1 Brazil 5 Somalia 1 Nga 5 Senegal 1 Việt Nam 5 Nicaragua 1 Nguồn: http://www.com/agriculture/?commodity=corn&graph=yield Theo USDA (2/2014), niên vụ 2013/2014 sản lượng ngô đạt 1.065,22 triệu tấn, tăng lên 89,18 triệu tấn so với 2011/2012, tăng 114,69 triệu tấn so với 2012/2013. Ngô nhập khẩu 2013/2014 tăng lên 3,2 triệu tấn cho Liên minh châu Âu (EU), Ai Cập, Hàn Quốc, Mexico và Việt Nam, nhưng xuất khẩu tăng lên ở Nga, thấp nhất 1,0 triệu tấn ở Argentina, 0,5 triệu tấn cho Liên minh châu Âu và Ấn Độ (Veldboom và Lee, 1996).