HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI THEO PHÁP LUẬT ĐẤT ĐAI VIỆT NAM VÀ THỤY ĐIỂN

Nghiên cứu hệ thống đăng ký đất đai Việt Nam và Thụy Điển. So sánh pháp luật, kinh nghiệm và gợi ý cải tiến hệ thống đăng ký đất đai ở Việt Nam.

Trường đại học

Trường Đại Học Luật Đại Học Lund

Chuyên ngành

Luật Quốc Tế - So Sánh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ Luật Học

2011

315
3
0

Phí lưu trữ

75 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

1.1. Cơ sở của đề tài

1.2. Mục đích nghiên cứu

1.3. Phạm vi nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.4.1. Phương pháp pháp lý truyền thống

1.4.2. Phương pháp so sánh

1.4.3. Phương pháp luận biện chứng duy vật và lịch sử

1.5. Tài liệu sử dụng

1.6. Kết cấu của đề tài

2. CHƯƠNG 2: HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI THEO PHÁP LUẬT THỤY ĐIỂN - NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ -

2.1. Sơ lược lịch sử phát triển của hệ thống đăng ký đất đai Thụy Điển

2.2. Quá trình thiết lập hệ thống đăng ký đất đai

2.3. Những cải cách quan trọng đối với hệ thống đăng ký đất đai Thụy Điển

2.3.1. Hợp nhất, khắc phục sự manh mún đất đai

2.3.2. Tin học hóa và ứng dụng kỹ thuật mới trong đăng ký đất đai

2.3.3. Thống nhất cơ quan quản lý đăng ký đất đai

2.4. Tổ chức hệ thống đăng ký đất đai ở Thụy Điển

2.4.1. Bộ máy đăng ký và lực lượng nhân sự

2.4.2. Lực lượng nhân sự

2.4.3. Thủ tục đăng ký đất đai

2.4.4. Mô hình tổ chức và nội dung thông tin đất đai đã được đăng ký

2.5. Đánh giá hệ thống đăng ký đất đai của Thụy Điển

3. CHƯƠNG 3: HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM - NGHIÊN CỨU VÀ ĐÁNH GIÁ -

3.1. Lược sử phát triển hệ thống đăng ký đất đai tại Việt Nam

3.1.1. Đăng ký đất đai tại Việt Nam dưới các chế độ cũ

3.1.1.1. Thời phong kiến
3.1.1.2. Thời Pháp thuộc
3.1.1.3. Giai đoạn 1954-1975 ở miền Nam

3.1.2. Hệ thống đăng ký đất đai theo chính quyền cách mạng cho đến nay

3.1.2.1. Từ năm 1988 đến nay

3.2. Tổ chức hệ thống đăng ký đất đai theo pháp luật Việt Nam

3.2.1. Bộ máy đăng ký và nhân sự

3.2.2. Lực lượng nhân sự

3.2.3. Thủ tục đăng ký đất đai

3.2.4. Các trường hợp đăng ký và người phải đăng ký quyền sử dụng đất

3.3. Khái quát về thủ tục đăng ký đất đai

3.4. Xây dựng và quản lý hệ thống thông tin đất đai sau khi đăng ký

3.4.1. Nội dung thông tin đất đai

3.4.2. Quản lý thông tin đất đai

3.4.3. Cung cấp thông tin đất đai

3.5. Đánh giá hệ thống đăng ký đất đai tại Việt Nam

3.5.1. Tổ chức hệ thống cơ quan đăng ký

3.5.1.1. Sự thống nhất của cơ quan quản lý hoạt động đăng ký chưa thực sự được đảm bảo
3.5.1.2. Tổ chức và hoạt động của cơ quan thực hiện đăng ký đất đai chưa hoàn thiện và ổn định

3.5.2. Đội ngũ cán bộ quản lý, đăng ký đất đai

3.5.3. Thủ tục đăng ký và thông tin đăng ký

3.5.3.1. Một số vấn đề về thủ tục đăng ký đất đai

3.5.4. Hệ thống thông tin đất đai

3.5.5. Đánh giá một số hoạt động liên quan đăng ký đất đai

3.5.5.1. Hoạt động quy hoạch sử dụng đất
3.5.5.2. Hoạt động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
3.5.5.3. Hoạt động định giá đất

4. CHƯƠNG 4: NHỮNG KINH NGHIỆM VÀ GỢI MỞ CHO PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG XÂY DỰNG HỆ THỐNG ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI QUA NGHIÊN CỨU, SO SÁNH PHÁP LUẬT ĐĂNG KÝ ĐẤT ĐAI CỦA THỤY ĐIỂN

4.1. So sánh hệ thống đăng ký đất đai theo pháp luật Việt Nam và Thụy Điển

4.2. Một số gợi mở cải tiến hệ thống đăng ký đất đai ở Việt Nam

4.3. Một số gợi mở cho việc kiện toàn hệ thống đăng ký đất đai

4.3.1. Về cơ cấu tổ chức

4.3.2. Về lực lượng nhân sự

4.3.3. Xây dựng cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin đất đai theo hướng tin học hóa

4.3.4. Chấn chỉnh một số hoạt động có ảnh hưởng đến đăng ký đất đai

4.3.4.1. Ban hành pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu bất động sản
4.3.4.2. Hoạt động quy hoạch sử dụng đất
4.3.4.3. Hoạt động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
4.3.4.4. Hoạt động định giá đất

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới Thiệu Hệ Thống Đăng Ký Đất Đai Tổng Quan 55 ký tự

Thực hiện chính sách mở cửa và hội nhập kinh tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu sử dụng các nguồn lực như vốn, đất đai, lao động. Chính sách mở cửa được Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện từ cuối năm 1986, trên cơ sở đường lối chỉ đạo của Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI. Với vai trò điều tiết các quan hệ có liên quan đất đai, một loại tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thiếu đối với mọi lĩnh vực, ngành nghề, chính sách, pháp luật đất đai qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung đã trở thành một trong những động lực chủ yếu tạo đà cho những chuyển biến trên. Người sử dụng đất đã gắn bó hơn với đất đai. Quyền sử dụng đất và các bất động sản gắn liền trên đất đã thực sự trở thành nguồn vốn lớn mà Nhà nước và người dân sử dụng để đầu tư, phát triển kinh doanh, mở rộng quan hệ hợp tác, thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam.

1.1. Cơ sở pháp lý và sự cần thiết của đăng ký đất đai

Cơ sở của đề tài nghiên cứu được hình thành từ nhu cầu thực tiễn của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập. Việc xây dựng cơ chế, quy trình đăng ký bất động sản thống nhất, công khai, minh bạch tạo điều kiện cho giao dịch bất động sản an toàn và hợp pháp. Hoàn thiện hệ thống pháp luật để quyền về đất đai vận động theo cơ chế thị trường, trở thành nguồn vốn trong sản xuất. Đồng thời, hiện đại hóa hệ thống quản lý hồ sơ địa chính và phát triển dịch vụ tư vấn pháp luật, công chứng, thẩm định, đấu giá. Đây là bước quan trọng để tạo môi trường thuận lợi cho thị trường bất động sản.

1.2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu so sánh đăng ký đất

Đề tài tập trung so sánh hệ thống đăng ký đất đai của Việt Nam và Thụy Điển để tìm ra bài học kinh nghiệm. Nghiên cứu này đi sâu vào hệ thống đăng ký hiện hành của Việt Nam, so sánh với mô hình của Thụy Điển. Phạm vi nghiên cứu bao gồm lịch sử phát triển, tổ chức bộ máy, thủ tục đăng ký và hệ thống thông tin đất đai. Mục tiêu chính là đưa ra gợi ý cải tiến hệ thống đăng ký đất đai Việt Nam, học hỏi từ kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là từ Thụy Điển.

II. Thách Thức Quản Lý Đất Đai và Thị Trường Bất Động Sản 56 ký tự

Do chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý một thị trường còn mới mẻ, nên dưới tác động của kinh tế thị trường, thị trường bất động sản nói chung và thị trường quyền sử dụng đất nói riêng ở nước ta phát triển chủ yếu mang tính tự phát, nằm ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước, mang lại những tác động tiêu cực đối với tình hình kinh tế - xã hội. Nhiều biến động thường xuyên diễn ra mà Nhà nước chưa điều chỉnh được. Dù giao dịch bất động sản luôn diễn ra trên phạm vi cả nước, nhưng phần lớn không qua con đường chính quy hợp pháp, hình thành nên một thị trường ngầm vượt khỏi sự điều tiết của Nhà nước.

2.1. Thực trạng thị trường bất động sản và quyền sử dụng đất

Thị trường bất động sản Việt Nam trải qua nhiều đợt "nóng - lạnh" thất thường, giao dịch ngầm vượt ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước. Nguyên nhân do nhiều bất động sản không đủ điều kiện pháp lý, năng lực quản lý của cơ quan thẩm quyền yếu kém, chồng chéo thẩm quyền, và quy hoạch sử dụng đất thiếu khả thi. Chính sách tài chính về giá đất và nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất chưa hiệu quả, dẫn đến bất ổn trong thị trường bất động sản. Do đó, đặt ra yêu cầu cấp thiết về quản lý và định hướng phát triển thị trường.

2.2. Hạn chế trong hệ thống đăng ký đất đai hiện tại

Hệ thống đăng ký đất đai hiện tại còn nhiều hạn chế. Quy định chưa thống nhất, dẫn đến chồng chéo và mâu thuẫn. Hệ thống thông tin đất đai rời rạc và không đầy đủ. Hoạt động đăng ký đất đai còn cồng kềnh. Nhiều nội dung đăng ký cần thiết chưa được điều chỉnh. Thiếu thông tin về quy hoạch, giá đất. Quy trình xây dựng hệ thống thông tin đất đai chưa cụ thể. Điều này cho thấy hệ thống đăng ký đất đai Việt Nam cần cải cách mạnh mẽ.

III. Phương Pháp So Sánh Hệ Thống Đăng Ký Đất Đai 2 Nước 56 ký tự

Để có thể tiến hành cải cách, hiện đại hóa hệ thống đăng ký đất đai theo chủ trương của Đảng, cần thiết phải có sự nghiên cứu, đánh giá về thực trạng của hệ thống, nhận thức những hạn chế nhằm tạo cơ sở cho các giải pháp được ban hành và thực thi. Nhiều công trình nghiên cứu đã được thực hiện. Tuy nhiên, phần lớn tập trung vào những giải pháp kỹ thuật cho việc tin học hóa sự quản lý và vận hành đối với hoạt động đăng ký đất đai. Vì vậy, đánh giá tổng quan về hệ thống đăng ký đất đai của Việt Nam, nhận thức những vấn đề không thể thiếu khi xây dựng hệ thống đăng ký, tìm hiểu những bài học, kinh nghiệm hữu ích cho việc xây dựng hệ thống là những gì tác giả tập trung nghiên cứu.

3.1. Yếu tố cốt lõi của hệ thống đăng ký đất đai hiệu quả

Để xây dựng một hệ thống đăng ký đất đai hoạt động hiệu quả, cần xác định các yếu tố cốt lõi. Điều này bao gồm lợi ích mà hệ thống mang lại, yêu cầu đặt ra và các trụ cột không thể thiếu trong hệ thống. Các nhà lập pháp cần lưu tâm đến điều này khi ban hành pháp luật điều chỉnh việc cải cách hệ thống đăng ký, nhằm đảm bảo tính hiệu quả cho hoạt động đăng ký.

3.2. Tiếp cận so sánh Việt Nam và Thụy Điển đăng ký đất

Đề tài sử dụng phương pháp so sánh để phân tích hệ thống đăng ký đất đai của Việt Nam và Thụy Điển. Phương pháp này giúp nhận diện điểm mạnh, điểm yếu của mỗi hệ thống, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm. So sánh bao gồm: lịch sử phát triển, tổ chức bộ máy, thủ tục đăng ký, hệ thống thông tin đất đai. Phân tích sự khác biệt và tương đồng để đề xuất giải pháp phù hợp cho Việt Nam.

IV. Kinh Nghiệm Thụy Điển Bài Học Cải Cách Đăng Ký Đất Đai 58 ký tự

Nhiều quy định đã được ban hành liên quan đến sắp xếp lại tổ chức, chức năng, nhiệm vụ của bộ máy đăng ký đất đai với sự thành lập Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất; thống nhất một mẫu giấy chứng nhận cho cả quyền sử dụng đất, nhà ở và tài sản khác gắn liền trên đất; quy định việc số hóa các dữ liệu địa chính đang được lưu trữ dưới dạng giấy tờ trong thủ tục đăng ký và cập nhật biến động đất đai, nghiên cứu quy định thống nhất việc đăng ký bất động sản với dự thảo Luật đăng ký bất động sản. Tuy nhiên, những thay đổi này vẫn chưa thật sự phát huy tác dụng.

4.1. Lịch sử phát triển và cải cách đăng ký đất đai Thụy Điển

Nghiên cứu lịch sử phát triển hệ thống đăng ký đất đai của Thụy Điển từ quá trình thiết lập đến các cải cách quan trọng. Phân tích quá trình hợp nhất đất đai, tin học hóa và ứng dụng kỹ thuật mới. Xem xét việc thống nhất cơ quan quản lý đăng ký đất đai. Đánh giá tác động của các cải cách này đến hiệu quả và tính minh bạch của hệ thống.

4.2. Tổ chức bộ máy và thủ tục đăng ký đất đai ở Thụy Điển

Phân tích tổ chức hệ thống đăng ký đất đaiThụy Điển, bao gồm bộ máy đăng ký và lực lượng nhân sự. Tìm hiểu chi tiết về thủ tục đăng ký đất đai. Nghiên cứu mô hình tổ chức và nội dung thông tin đất đai đã được đăng ký. Đánh giá tính hiệu quả, chính xác và minh bạch của hệ thống đăng ký đất đai Thụy Điển.

V. Thực Trạng Việt Nam Đánh Giá Hệ Thống Đăng Ký Đất Đai 57 ký tự

Một số quy định được dự thảo hoặc ban hành vẫn còn mang hơi hướng bảo vệ lợi ích cục bộ của ngành, chứ chưa thật sự vì lợi ích chung của nhà nước và nhân dân. Sự tồn tại của nhiều quy định với trình tự, thủ tục khác nhau trong hoạt động đăng ký đất đai do chưa có quy định chung thống nhất dẫn đến sự chồng chéo, mâu thuẫn và cát cứ về thẩm quyền quản lý giữa các cơ quan quản lý liên quan, kéo theo đó là sự rời rạc, không đầy đủ của hệ thống thông tin đất đai, bất động sản được xây dựng.

5.1. Lịch sử và phát triển hệ thống đăng ký đất đai Việt Nam

Nghiên cứu lược sử phát triển hệ thống đăng ký đất đai tại Việt Nam từ các chế độ cũ đến nay. Tìm hiểu về đăng ký đất đai dưới thời phong kiến, thời Pháp thuộc và giai đoạn 1954-1975 ở miền Nam. Phân tích hệ thống đăng ký đất đai theo chính quyền cách mạng, đặc biệt từ năm 1988 đến nay. Đánh giá những thay đổi và hạn chế trong từng giai đoạn.

5.2. Tổ chức bộ máy và thủ tục đăng ký đất đai ở Việt Nam

Phân tích tổ chức hệ thống đăng ký đất đai theo pháp luật Việt Nam, bao gồm bộ máy đăng ký và nhân sự. Tìm hiểu về các trường hợp đăng ký và người phải đăng ký quyền sử dụng đất. Khái quát về thủ tục đăng ký đất đai. Nghiên cứu việc xây dựng và quản lý hệ thống thông tin đất đai sau khi đăng ký. Đánh giá những tồn tại trong quá trình này.

5.3. Đánh giá hoạt động liên quan đến đăng ký đất đai

Đánh giá hoạt động quy hoạch sử dụng đất, hoạt động cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hoạt động định giá đất. Phân tích các vấn đề tồn tại và những tác động của chúng đến hệ thống đăng ký đất đai.

VI. Gợi Ý Cải Tiến Hệ Thống Đăng Ký Đất Đai Ở Việt Nam 55 ký tự

Những vấn đề này cho thấy nhiều hạn chế chưa được khắc phục vẫn đang tồn tại trong hệ thống đăng ký đất đai của Việt Nam do quy định điều chỉnh nó vẫn còn đang được xây dựng dở dang. Trước thực tế đó, để có thể tiến hành cải cách, hiện đại hóa hệ thống đăng ký đất đai theo chủ trương của Đảng, cần thiết phải có sự nghiên cứu, đánh giá về thực trạng của hệ thống, nhận thức những hạn chế nhằm tạo cơ sở cho các giải pháp được ban hành và thực thi.

6.1. So sánh hệ thống đăng ký đất đai Việt Nam và Thụy Điển

So sánh hệ thống đăng ký đất đai theo pháp luật Việt Nam và Thụy Điển một cách toàn diện để thấy rõ những điểm mạnh, điểm yếu của mỗi hệ thống.

6.2. Gợi mở cải tiến hệ thống đăng ký đất đai ở Việt Nam

Đề xuất các gợi ý cải tiến cho hệ thống đăng ký đất đaiViệt Nam, bao gồm về cơ cấu tổ chức, lực lượng nhân sự và xây dựng cơ sở dữ liệu theo hướng tin học hóa. Chấn chỉnh các hoạt động ảnh hưởng đến đăng ký đất đai. Ban hành pháp luật về đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu bất động sản. Hoàn thiện hoạt động quy hoạch sử dụng đất và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

12/05/2025
Hệ thống đăng ký đất đai theo pháp luật đất đai việt nam và thụy điển

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI ------ 1. Cơ sở của đề tài Thực hiện chính sách mở cửa, hòa nhập vào nền kinh tế thị trường, kinh tế nước ta trong những năm gần đây đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tham gia vào thị trường thế giới, đời sống xã hội không ngừng được cải thiện, nâng cao. Dưới tác động của quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, cơ cấu sử dụng các nguồn lực như vốn, đất đai, lao động.v có sự chuyển hướng mạnh mẽ, tập trung vào công nghiệp và dịch vụ. Chính sách mở cửa được Đảng và Nhà nước Việt Nam thực hiện từ cuối năm 1986, trên cơ sở đường lối chỉ đạo của Đảng tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI1.

Tại Đại hội này, bên cạnh việc nhìn thẳng, nêu rõ sự thật về những sai lầm, khuyết điểm trong chủ trương, chính sách, Đảng đã có sự đổi mới tư duy mang tính bước ngoặt, trước hết là tư duy kinh tế, đề ra đường lối đổi mới toàn diện, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần và mở rộng hợp tác quốc tế, cụ thể như: “…coi nền kinh tế có cơ cấu nhiều thành phần là một đặc trưng của thời kỳ quá độ”, “… Phương hướng đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã được khẳng định là xóa bỏ tập trung quan liêu, bao cấp”, “…phải có chính sách mở rộng giao lưu hàng hóa, xóa bỏ tình trạng ngăn sông, cấm chợ, chia cắt thị trường”, “…mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại…”, “…phải tham gia sự phân công lao động quốc tế”, “…tranh thủ mở mang quan hệ kinh tế với các nước công nghiệp phát triển, các tổ chức quốc tế và tư nhân nước ngoài trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi”, “…khuyến khích nước ngoài đầu tư vào nước ta dưới nhiều hình thức…, cần có chính sách và biện pháp tạo điều kiện thuận lợi cho người nước ngoài và Việt kiều vào nước ta để hợp tác kinh doanh”2…v.v đã mở ra thời kỳ đổi mới trong lịch sử nước ta. Ngày 28/7/1995, Việt Nam chính thức trở thành thành viên thứ bảy của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Đầu tháng 3/1996, Việt Nam tham gia Diễn đàn Hợp tác Á – Âu (ASEM) ngay từ khi Diễn đàn này được thành lập. Ngày 14/11/1998, Việt Nam tham gia Diễn đàn hợp tác kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương (APEC).

Và ngày 07/11/2006, Đại hội đồng 1 Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI diễn ra từ ngày 15 đến ngày 18/12/1986. 2 Trích Văn kiện Đại hội Đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI. 9 WTO đã thông qua Nghị định thư WT/ACC/VNM/48 về việc Việt Nam gia nhập WTO, với sự nhất trí của toàn thể 149 thành viên WTO, hoàn tất quá trình 11 năm đàm phán xin gia nhập kể từ tháng 01/1995. Ngày 29/11/2006, Quốc hội Việt Nam đã phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới3.

Đời sống người dân được cải thiện. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ dưới 200 USD/người năm 1990 lên 1024 USD/người năm 2008. Tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo quốc gia từ hơn 60% năm 1990 đã giảm xuống còn 13,8% năm 20084. Với vai trò điều tiết các quan hệ có liên quan đất đai, một loại tư liệu sản xuất đặc biệt không thể thiếu đối với mọi lĩnh vực, ngành nghề, chính sách, pháp luật đất đai qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung đã trở thành một trong những động lực chủ yếu tạo đà cho những chuyển biến trên.

Người sử dụng đất đã gắn bó hơn với đất đai. Quyền sử dụng đất và các bất động sản gắn liền trên đất đã thực sự trở thành nguồn vốn lớn mà Nhà nước và người dân sử dụng để đầu tư, phát triển kinh doanh, mở rộng quan hệ hợp tác, thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam. Tuy nhiên, do chưa có nhiều kinh nghiệm trong việc quản lý một thị trường còn mới mẻ, nên dưới tác động của kinh tế thị trường, thị trường bất động sản nói chung và thị trường quyền sử dụng đất nói riêng ở nước ta phát triển chủ yếu mang tính tự phát, nằm ngoài tầm kiểm soát của Nhà nước, mang lại những tác động tiêu cực đối với tình hình kinh tế - xã hội. Nhiều biến động thường xuyên diễn ra mà Nhà nước chưa điều chỉnh được.

Trong vòng thời gian chưa đến mười lăm năm, thị trường bất động sản, mà chủ yếu là thị trường nhà – đất đã trải qua những đợt “nóng – lạnh” thất thường: cơn sốt đất từ năm 1993 đến năm 1996, sự đóng băng thị trường trong những năm từ 1997 đến 1999; cơn sốt đất vào cuối năm 2000 đến năm 2004, sự đóng băng thị trường từ cuối năm 2004 đến năm 2006; cuối năm 2006, 3 Nghị quyết số 71/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập Tổ chức Thương mại thế giới. 4 Trích Báo cáo quốc gia kiểm điểm định kỳ việc thực hiện quyền con người ở Việt Nam, Cổng thông tin Chính phủ Việt Nam, http://www.vn/pls/portal/docs/PAGE/VIETNAM_GOVERNMENT_PORTAL/NEWS_REP/HD _CUACHINHPHU/NAM2009/THANG04/BAO%20CAO%20NHAN%20QUYEN. 10 cơn sốt đất lại tiếp tục diễn ra, và từ giữa năm 2008, do khủng hoảng kinh tế thế giới, thị trường tạm thời đóng băng. Dù giao dịch bất động sản luôn diễn ra trên phạm vi cả nước, nhưng phần lớn không qua con đường chính quy hợp pháp, hình thành nên một thị trường ngầm vượt khỏi sự điều tiết của Nhà nước.

Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân như: phần lớn bất động sản chưa đủ điều kiện pháp lý tham gia giao dịch (không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất); năng lực tổ chức quản lý của hệ thống cơ quan có thẩm quyền còn yếu kém, chưa đáp ứng được chức năng, nhiệm vụ được giao, thậm chí có sự chồng chéo trong thẩm quyền dẫn đến đùn đẩy trách nhiệm, buông lỏng quản lý; quy hoạch sử dụng đất – một công cụ quản lý cũng là thông tin quan trọng nhất cho việc tạo lập bất động sản và tác động đến sự phát triển của thị trường – thì thiếu tính khả thi, không có tầm nhìn xa, mang tính chắp vá, thiếu ổn định, lại không được hoặc chậm công khai nên tạo cơ hội cho tiêu cực, tham nhũng, đầu cơ đất đai xuất hiện khắp nơi. Hơn nữa, các chính sách tài chính về giá đất, về nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất cũng chưa có tác dụng điều tiết, hỗ trợ kịp thời và hữu hiệu cho sự phát triển của thị trường, chưa đáp ứng được nhu cầu bất động sản so với tốc độ tăng dân số, nhất là nhà ở cho người có thu nhập thấp…v. Tất cả những thực trạng đó đã vẽ nên một bức tranh loang lổ về thị trường bất động sản hiện nay ở Việt Nam. Tuy đang ở giai đoạn sơ khai, nhưng đã có nhiều bất ổn, gây xáo trộn trong đời sống nhân dân và tác động tiêu cực đến sự phát triển của nền kinh tế.

Chính vì vậy, làm thế nào để quản lý được thị trường bất động sản, phát huy được nguồn nội lực và nguồn vốn to lớn của quốc gia, định hướng sự phát triển của nó ngay từ buổi đầu trở thành một vấn đề cấp thiết không thể không chú trọng. Nhiều giải pháp đã được Đảng và Nhà nước vạch ra trong đường lối, chính sách của mình với những tư tưởng chỉ đạo cơ bản như: 11 “…Xây dựng cơ chế, quy trình đăng ký bất động sản thống nhất, công khai, minh bạch, tạo điều kiện để lành mạnh hóa và bảo đảm an toàn pháp lý cho các giao dịch bất động sản, qua đó thúc đẩy kinh doanh, đầu tư…”5; “…Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách để các quyền về đất đai và bất động sản được vận động theo cơ chế thị trường, trở thành một nguồn vốn trong sản xuất, kinh doanh… Hiện đại hóa hệ thống quản lý hồ sơ địa chính, bất động sản. Phát triển đồng bộ các dịch vụ tư vấn pháp luật, công chứng, thẩm định, đấu giá, đăng ký giao dịch …tạo môi trường thuận lợi, an toàn cho các giao dịch trên thị trường đất đai, bất động sản…”6…v. Theo đó, một trong những công cụ được đề cập chính là đăng ký đất đai và giải pháp cần tiến hành là hiện đại hóa hệ thống đăng ký và cung cấp thông tin về đất đai, bất động sản.

Thực hiện tốt hoạt động đăng ký đất đai, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ đảm bảo điều kiện pháp lý cho đất đai, bất động sản được đưa vào giao dịch, trở thành hàng hóa chính thức, hợp pháp trên thị trường. Xây dựng thành công hệ thống đăng ký đất đai và hệ thống cung cấp thông tin bất động sản trên cơ sở ứng dụng hiện quả công nghệ thông tin có ý nghĩa quan trọng trong việc giảm bớt thủ tục hành chính; công khai quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền trên đất; giúp thị trường bất động sản trở nên minh bạch với những thông tin rõ ràng về bất động sản; góp phần đảm bảo an toàn pháp lý cho các bên tham gia giao dịch, hạn chế các tranh chấp đất đai, bất động sản; giúp nhà nước quản lý, kiểm soát được thị trường bất động sản và chống thất thu thuế. Cụ thể hóa các chủ trương của Đảng, nhà nước Việt Nam đã có nhiều hành động cụ thể trong việc cải cách và hiện đại hóa hệ thống đăng ký đất đai, 5 Trích Nghị quyết 16/2007/NQ-CP ngày 27/02/2007 của Chính phủ ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa 10 về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững khi Việt Nam là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới. 6 Trích Mục II.3 Nghị quyết 21-NQ/TW ngày 31/01/2008, Hội nghị lần 6 Ban Chấp hành trung ương Đảng Khóa 10 về tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

12 cũng như cải tiến công tác đăng ký, nổi bật nhất là việc thí điểm ứng dụng công nghệ thông tin, sử dụng các phần mềm quản lý hoạt động đăng ký, cập nhật biến động và cung cấp thông tin đất đai tại một số địa phương. Qua đó, đánh giá, rút kinh nghiệm chuẩn bị cho những cải cách sâu, rộng sau này. Lẽ tất nhiên, sự điều chỉnh, bổ sung các quy định pháp luật nhằm tạo hành lanh pháp lý cho việc xây dựng và vận hành của hệ thống đăng ký đất đai là vấn đề quan trọng được lưu tâm.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ