ĐẶT VẤN ĐỀ Xét nghiệm phân tích khí máu động mạch (ĐM) là xét nghiệm thường quy tại các khoa cấp cứu, khoa hồi sức tích cực (HSTC) và các khoa lâm sàng khác để theo dõi bệnh nhân bị suy hô hấp cấp tính. Kết quả khí máu ĐM có thể được xem là tiêu chuẩn vàng giúp đánh giá tình trạng trao đổi khí của bệnh nhân [24] , kiểm soát thông khí và đánh giá tình trạng cân bằng toan kiềm. Ngoài ra, khí máu ĐM còn cung cấp về độ pH, phân áp − nồng độ của Oxy và CO2 trong máu động mạch giúp bác sĩ lâm sàng đưa ra quyết định hỗ trợ thở máy hay điều chỉnh máy thở phù hợp với tình trạng của bệnh nhân [20]. Theo báo cáo của Ủy ban quốc gia về tiêu chuẩn phòng thí nghiệm lâm sàng (National Committee for Clinical Laboratory Standards), xét nghiệm khí máu ĐM là kết quả có ảnh hưởng đến việc ra quyết định sử dụng máy thở cho bệnh nhân hơn bất kỳ kết quả xét nghiệm nào khác [41].
Giá trị pH, pO2, pCO2 và bicarbonat là những yếu tố quan trọng nhất trong việc theo dõi điều trị cho bệnh nhân có tình trạng nặng được điều trị tại khoa cấp cứu hoặc khoa hồi sức tích cực [42], [49]. Những thay đổi đột ngột và bất thường của các thông số này có thể dẫn đến các tình huống nguy hiểm thậm chí đe dọa tính mạng của bệnh nhân. Do đó, xét nghiệm phân tích khí máu ĐM là không thể thiếu, đặc biệt đối với các bệnh nhân đang điều trị tại các khoa bệnh nặng, ví dụ như khoa hồi sức tích cực [2], [7]. Bên cạnh đó, kỹ thuật lấy mẫu máu tĩnh mạch là một kỹ thuật thường quy, cơ bản và dễ thực hiện đối với nhân viên y tế cũng như không gây nhiều đau đớn và biến chứng cho bệnh nhân.
Tuy nhiên, kỹ thuật lấy mẫu máu động mạch không đơn giản như máu tĩnh mạch, thực hiện lấy mẫu máu động mạch thường chọn vị trí là động mạch quay (phổ biến nhất), động mạch cánh tay, động mạch đùi [2] là những kỹ thuật xâm lấn sâu. Do đó, kỹ thuật lấy mẫu máu động mạch gây nhiều. 2 đau đớn và biến chứng như khối máu tụ (vết bầm) [14], [19], biến chứng nhiễm trùng cho bệnh nhân và có nguy cơ gây tai nạn nghề nghiệp cho các nhân viên y tế liên quan đến việc bị kim đâm [46], [59], [61]. Ví dụ, theo một số thống kê nghiên cứu của tác giả Cole và Lumbley [15] thì tỉ lệ vết bầm tím do vết thủng động mạch của bệnh nhân xảy ra ở 35,5% trường hợp lấy mẫu máu động mạch.
Thực tế tại Việt Nam, kỹ thuật lấy máu động mạch đòi hỏi người thực hiện phải là bác sĩ hoặc điều dưỡng đã được đào tạo chuyên nghiệp để có thể thực hiện lấy mẫu cho xét nghiệm phân tích khí máu động mạch [1]. Những điều nói trên đã góp phần nêu rõ các khó khăn, hạn chế của xét nghiệm khí máu động mạch cho bệnh nhân và nhân viên y tế có thể bị ảnh hưởng về mặt tâm lý trong việc thực hiện điều trị và chăm sóc bệnh nhân. Đặc biệt đối với một số trường hợp khẩn cấp như bệnh nhân bị tai nạn hay trong tình trạng sốc, việc lấy mẫu máu động mạch là vô cùng khó khăn [28]. Vì thế, những nghiên cứu về các giá trị khí máu tĩnh mạch nhằm tìm ra sự tương đồng hay liên quan chặt chẽ so với các giá trị tương ứng trên khí máu động mạch đã được quan tâm và nỗ lực tìm hiểu ngay cả ở Việt Nam.
Tuy nhiên, đến hiện tại kết quả các nghiên cứu ở nước ta dường như chỉ đưa ra kết luận ở mức độ về sự tương quan giữa giá trị khí máu tĩnh mạch và khí máu động mạch [3], [4]. Do đó, trong thực tế vẫn còn tồn tại nhiều khó khăn về việc tìm ra các giải pháp hiệu quả để khắc phục những mặc hạn chế nêu trên. Từ đó, chúng ta có thể đưa ra các kiến nghị, phương pháp bổ sung hay hỗ trợ trên thực tế lâm sàng phù hợp với các điều kiện của từng cơ sở y tế khác nhau. Mới đây, theo Magnus Ekstro¨m và cộng sự (2019) [19] nghiên cứu về sự tương đồng của giá trị khí máu tĩnh mạch được tính toán và giá trị khí máu động mạch, tiến hành trên đối tượng là bệnh nhân đang sử dụng máy thở từ 18 tuổi trở lên tại Thụy Điển.
Kết quả của nghiên cứu. 3 cho thấy giá trị pH, pCO2 và pO2 của khí máu động mạch và giá trị khí máu tĩnh mạch đã được tính toán có sự tương đồng cao. Tuy nhiên, tại Việt Nam vẫn chưa tìm thấy sự tương đồng chấp nhận được. Do đó, câu hỏi đặt ra liệu có sự tương đồng của các giá trị này trên đối tượng người Việt Nam hay không? Chính vì thế, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Bước đầu so sánh độ tương đồng giữa giá trị tính toán từ khí máu tĩnh mạch và khí máu động mạch ở bệnh nhân khoa Hồi sức tích cực”.
4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU Các giá trị khí máu tĩnh mạch được tính toán có tương đồng với khí máu động mạch trên cùng một bệnh nhân tại một thời điểm ở khoa hồi sức tích cực hay không? MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU Mục tiêu cụ thể: 1. Xác định giá trị khí máu động mạch và tĩnh mạch trên cùng một bệnh nhân tại một thời điểm. Xác định độ tương đồng của các giá trị pH, pCO2, pO2 và bicarbonat giữa giá trị tính toán từ khí máu tĩnh mạch và khí máu động mạch. Giới thiệu về xét nghiệm phân tích khí máu 1.
Lịch sử Trong những năm 1950, những tiến bộ đáng kể đã đạt được trong việc phát triển các điện cực hiệu quả có thể đo chính xác pH, pCO2 và pO2 [16], [51]. Hiện tại, các máy phân tích khí máu tự động đã có thể đo pH, pCO2, pO2 và tính toán bicarbonate trong các mẫu máu động mạch trong vòng 01 phút [50]. Các yếu tố thúc đẩy cho sự tiến bộ này là kết quả của sự phát triển vượt trội của các đơn vị sản xuất thiết bị phân tích khí máu và máy thở. Mục đích xét nghiệm phân tích khí máu Khí máu động mạch là một xét nghiệm rất giá trị trong chẩn đoán, tiên lượng và theo dõi trong quá trình điều trị tại các khoa cấp cứu, khoa HSTC.
có thể chẩn đoán suy hô hấp, phản ánh tình trạng oxy hoá máu và thăng bằng kiềm toan trong máu [13], [53]. Kết quả khí máu có thể sẽ gợi ý nguyên nhân hoặc hướng điều trị [1], [11], [22]. Các phương pháp phân tích khí máu Trong những thập kỷ trước, các nhà khoa học đã nghiên cứu các phương pháp thay thế để có thể có kết quả phân tích khí máu nhanh nhưng vẫn đảm bảo được sự chính xác. Nhiều nỗ lực của các nhà nghiên cứu để phát triển các thiết bị phân tích khí máu để phục vụ cho các bác sĩ lâm sàng diều trị và chăm sóc bệnh nhân.
Ngoài việc hạn chế cũng như loại bỏ những nhược điểm của các phương pháp xâm lấn thông thường, các phương pháp phân tích khí máu được phát triển liên tục có thể mang lại nhiều lợi ích cho bệnh nhân và nhân viên y tế [35]. Một số thiết bị phân tích thông khí và nồng độ Oxy hiện đại không cần sử dụng mẫu. 6 máu được lấy từ bệnh nhân, điều này mang lại lợi ích cho bệnh nhân, đồng thời cũng giảm khả năng tiếp xúc của nhân viên y tế giúp hạn chế các nguy cơ lây nhiễm tồn tại trong mẫu máu bệnh nhân. Nhiều công nghệ đã được nghiên cứu và đang phát triển, bao gồm: điện thế [57], enzyme hoặc ion [21]; sắc ký khí [59], point of care blood (POCB) [33].
Mẫu khi qua cột này sẽ được hấp thu lên trên pha tĩnh đó. Sau đó, các chất lần lượt được tách khỏi cột sắc ký theo dòng khí ra ngoài và được ghi nhận bởi các đầu dò. Từ các tín hiệu nhận được máy tính sẽ xử lý và phân tích kết quả bằng sắc ký đồ. Kết quả của các chất được xác định nhờ vào thời gian của chất đó lưu trên sắc ký đồ [6].
Phương pháp điện thế Khí máu được đo bằng phương pháp điện thế. Phương pháp này dựa trên sự chênh lệch điện thế giữa hai điện cực được đặt trong các dung dịch muối dưới điều kiện hiệu điện thế dòng điện bằng 0 và phân cách bởi lớp màng [43], [48]. Dung dịch muối cùng với hai điện cực – điện cực chỉ thị và điện cự tham chiếu, được gọi là tế bào điện hoá [5]. Điện cực chỉ thị có lớp màng nhạy cảm với các ion cần đo lường một cách có chọn lọc [60].
Khi có sự thay đổi nồng độ các ion ở một phía của màng như khi đặt điện cực chỉ thị vào mẫu bệnh phẩm, điện thế qua màng được tạo ra. Điện thế sinh ra liên quan tới cả thành phần của màng và nồng độ ion ở các phía của màng [43], [48]. Điện thế sinh ra điện cực chỉ thị được so sánh với điện thế không đổi. 7 của điện cực tham chiếu.
Màng đo nồng độ H+, pH được làm bằng thuỷ tinh nhạy cảm với H+, từ đó xác định được các giá trị của các ion cần đo. Thiết bị điện cực chọn lọc ion có thể đo được nhiều chất điện giải khác nhau nhưng cần sử dụng các màng khác nhau. Màng đo Na+ là lithium aluminum hoặc có thể là màng ion sodium. Màng đo K+ chứa kháng sinh valinomycin.
Màng cứng là các tinh thể đơn hoặc tinh thể mịn cố định trong chất trơ [39]. Điện cực tham chiếu bao gồm kim loại và muối tiếp xúc với dung dịch có chứa anion tương tự điện cực chỉ thị [30]. Điện cực này tạo ra điện thế không đổi. Điện cực tham chiếu hay sử dụng nhất để đó pH là calomel, gồm hỗn hợp HgCl2 và KCl.
Điện cực Ag/AgCl2 cũng thường được dùng trong một số thiết bị. Cầu muối trong điện cực tham chiếu giúp hình thành dòng điện giữa điện cực và dung dịch trong mẫu bệnh phẩm, cho phép đo lường điện thế bằng vôn kế. Phương pháp point of care blood (POCB) a) Nguyên lý POCB là phương pháp phân tích tại chỗ có độ chính xác tương đối cao [27], [33]. Phương pháp này giúp nhân viên y tế và bệnh nhân có kết quả phân tích khí máu trong thời gian sớm nhất.
Trong môi trường pH kiềm, các phân tử huyết sắc tố (hemoglobine) của mẫu máu tích điện âm sẽ di chuyển về cực dương dưới tác động của dòng điện một chiều. Quá trình điện di sẽ làm phân tách chúng thành các thành phần khác nhau dựa trên điện tích của chúng.