Chương 1. Ủy viên của Nghị viện về hành chính (tại Vương quốc 16 Anh); Chuong 2. Thanh tra Nghi vién Thuy Điển; Chương 3. Thanh tra Châu Âu; Chương 4.
Thanh tra Thổ Nhĩ Kỳ. Luận văn đã nghiên cứu mô hình thanh tra trong đó có Thanh tra Quốc hội của một số quốc gia và khu vực trên các phương diện: Lịch sử hình thành, phạm vi kiểm soát của cơ quan thanh tra, thủ tục và thâm quyên thực hiện khiếu nại, thực tiễn hoạt động. Những đánh giá, phân tích trong luận văn góp phần cung cấp các số liệu, thông tin về cơ quan Thanh tra Quốc hội ở một số nước trên thế giới. - Bai nghiên cứu “The Ombudsman Institution and The Quality of Democracy”, của TS.° Nghiên cứu đã chi ra mối quan hệ giữa cơ quan thanh tra trong việc thúc đây chất lượng của nền dân chủ.
Nội dung nghiên cứu gồm: 1. Nguồn gốc và sự lan tỏa của cơ quan Thanh tra Quốc hội trên thế giới; 2. Dân chủ và pháp quyền; 3. Sự đóng góp của cơ quan thanh tra tới chat lượng của nên dân chủ.
- Bài nghiên cứu “The Relation between Ombudsman and the Courts — The viewpoint of the Venice Commission”, cua Gabriele Kucsko — Stadlmayer (Round Table with the Russian Commissioners for Human Rights 22/23 thang 10 năm 2011). Bài thuyết trình về co quan thanh tra ở một số nước châu Âu, tập trung nghiên cứu mối quan hệ giữa cơ quan thanh tra với tòa án: phạm vi thanh tra của Thanh tra Quốc hội đối với tòa án để không ảnh hưởng đến tính độc lập của tòa án trong xét xử và vẫn đảm bảo kiểm soát được tòa án nhăm bảo vệ quyền con người. - Bài nghiên cứu: “Zhe parliamentary ombudsman — withstanding the test of time”, ed. Bài nghiên cứu của TS.
Richard Kirkham cua Khoa Luat Truong Dai hoc Shefield, gom 32 trang, trong đó tác giả đã chỉ ra những khó khăn, thách thức ma co quan Thanh tra Quốc hội phải đối diện dé đảm bảo giải quyết thỏa đáng các khiếu nại của người dân hiện nay. Tác giả cho rằng, hiệu quả công việc của thanh tra Quốc hội không chỉ do nỗ lực đơn độc của cơ quan thanh tra mà phải có sự hợp tác từ các cơ quan nhà nước như Quốc hội, hệ thống tư pháp. Đồng thời, tác giả vẫn khăng định tầm quan trong của việc tôn tại thiết chế Thanh tra Quốc hội. ° Được lay từ bài thuyết trình trong budi khai mạc lễ tốt nghiệp trường Khoa học chính trị - Dai học Siena.
Xem: https://www.eu/en/speech/en/348 truy cập: Ngày 25/5/2017 17 - Bài nghiên cứu: “How to be a good Ombudsman” của TS. Jacob Soderman, bài nghiên cứu được trình bay tại Hội nghị bồi dưỡng nâng cao công chức thanh tra châu Âu năm 2004 tại Marid. Theo đó, tác giả đã trình bày nguồn gốc ra đời của cơ quan thanh tra đầu tiên tại châu Âu và sự phát triển các cơ quan thanh tra ở các nước Liên minh châu Âu, đánh giá tính hiệu quả của hoạt động thanh tra trong việc kiểm soát cơ quan hành chính thông qua việc quốc hội bầu cơ quan thanh tra nhằm đảm bảo sự độc lập của cơ quan thanh tra với cơ quan hành chính. - Sach: “The Danish Ombudsman’, March 1995, ed.by the Danish Ombudsman and the Ministry of foreign affairs.
Cuốn sách là tài liệu chuyên sâu về ombudsman của Dan Mach, với 15 chuyên dé, nội dung là các bài nghiên cứu của nhiều tác giả về lịch sử hình thành, vai trò của ombudsman trong việc kiểm soát cơ quan hành chính, mỗi quan hệ với co quan nhân quyên châu Âu, triển vọng phát triển của mô hình nay trong tương lai. Cuốn sách đã cung cấp cho luận án các nội dung quan trọng về Thanh tra Quốc hội ở Đan Mạch. Ngoài ra, một số công trình về kiểm soát quyền lực có dé cập Thanh tra Quốc hội như: - Sach: “Tool for Parliamentary Oversight - A Comparative Study of 88 National Parliaments” của TS. Hironori Yamamoto, Nxb.
Inter-Parliamentary Union, 2007. Công trình dưới hình thức nghiên cứu so sánh đã phân tích co sở thực hiện quyên giám sát của Nghị viện đối với Chính phủ và đánh giá các công cụ giám sát của của nghị viện của 88 quốc gia. Trong đó, tại mục 3.1, Thanh tra Quốc hội được tác giả xác định là một trong những công cụ giám sát của Quốc hội được nhiều nước áp dụng. Như vậy, công trình đã phần nào cho thay, Thanh tra Quốc hội là một trong những phương thức kiểm soát quyền lực của Quốc hội đối với cơ quan hành chính.
Tuy nhiên, công trình cũng chưa có nhiều phân tích mang tính lý luận về mối quan hệ giữa Thanh tra Quốc hội và Quốc hội trong vấn đề kiểm soát quyền lực. - Sach: “Constitutional and administrative law” của tac gia Hilaire Barnett, Cavendish Publishing Limited, London - Sydney, 2003 (tái ban lần thứ 3). Cuốn sách gồm có 7 phan và 26 chương, nghiên cứu toàn điện về pháp luật hiến pháp 18 và hành chính ở Anh trên cơ sở so sánh với các quan điểm, tư tưởng của các hoc giả về nhà nước và pháp luật trên thế giới. Công trình cũng dành một chương để nghiên cứu về Thanh tra Quốc hội của Anh (commissioners for administration: ‘ombudsman’).
Công trình đã chỉ ra sự ra đời của Thanh tra Quốc hội ở Anh xuất phát từ nhu cầu kiểm soát quyền lực cũng như nhu cầu phát huy dân chủ của người dân Anh. Cụ thể, trước khi thiết chế này ra đời, theo truyền thống, công dân có khiếu nại về quản lý hành chính của Chính phủ sẽ được giải quyết bởi tòa án hoặc các cơ quan tài phán hoặc thông qua các thành viên Nghị viện, tuy nhiên, các cách thức này cho thấy các phàn nàn được giải quyết không thỏa đáng và kết qua là có sự thay thé và bổ sung cơ chế mới dé giúp công dân thực hiện được quyền này đó chính là Thanh tra Quốc hội.” Công trình đã cho thấy Thanh tra Quốc hội là một thiết chế bổ sung nhằm hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyên lực và phát huy dân chủ ở Anh. Tuy nhiên, công trình cũng chỉ phân tích vấn đề này dưới góc độ lịch sử tô chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Anh chứ chưa có những phân tích đánh giá tong hợp các van dé lý luận liên quan đến Thanh tra Quốc hội. Các công trình nghiên cứu nước ngoài về Thanh tra Quốc hội với vai tro là cơ quan nhân quyên quốc gia Nghiên cứu thuộc nhóm này có thé kế đến một số công trình tiêu biểu sau: - Sách: “The Role of National Human Rights Institutrions in Good Governance and Human Rights Protection” cua GS.
Reft, Citation: 13 Harv. Theo tác giả, câu trúc của một nhà nước dân chủ đòi hỏi sự cải cách cả ba nhánh quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; pháp quyền cần phải được nhắn mạnh và quyền con người cần phải được thúc đây. Những cơ quan nhà nước hoạt động như cơ chế giám sát để ngăn chặn những hoạt động không phù hợp của các cơ quan nhà nước cũng có thê được thành lập để đảm bảo một nền quản lý tốt như cơ quan kiểm toán, ủy ban bau cử, ủy ban chống tham nhũng và các dạng cơ quan nhân quyền." Trong 7 Hilaire Barnett (2003), Constitutional and administrative law, Cavendish Publishing Limited, London - Sydney, p. ŠTrích nguyên van: “Democratic governance structures, including the legislative, executive / administrative, and judicial branches, can be reformed.
The rule of law can be strengthened. Human rights protection can be improved’, “State institutions that act as oversight mechanisms to prevent improper state action and improve governance can also be established in the pursuit of good governance. These institutions include state 19 đó, các tổ chức quốc tế va cả các quốc gia bay tỏ sự quan tâm đến các loại cơ quan nhân quyên trong việc thúc đây nền quản lý và bảo vệ quyền con người của nhà nước. Công trình đã chỉ ra mô hình Thanh tra Quốc hội vốn chức năng ban dau không nhắn mạnh vào yếu tô bảo vệ quyền con người, tuy nhiên, thực tế cho thay, một số thanh tra xử ly các vụ việc làm phát sinh các van dé thực thi quyền con người cần phải sử dụng các quy định về quyên con người dé giải quyết.” Vào khoảng những năm giữa thập niên 70, một số quốc gia trên thế giới đã kết hợp mô hình Thanh tra Quốc hội với ủy ban nhân quyền thành một thiết chế hỗn hợp (‘the hybrid human rights ombudsman’) như ở các nước chau Mỹ La Tinh, Trung và Tay Âu." - Sách: “The Ombudsman, Good Governance and the International Human Rights System” của GS.
Cuốn sách bao gom 12 chương, nội dung đề cập sự phát triển quan niệm về Thanh tra Quốc hội, phân tích các khía cạnh về vai trò của ombudsman trong việc kiểm soát quyền lực của chính phủ, cơ quan hành chính và bảo đảm các quyền con người. Tác phẩm là sự đánh giá khá toàn diện hoạt động của Thanh tra Quốc hội của các nước đại diện cho nhiều khu vực khác nhau trên thế gidi. - Sach: “Human Rights Commissions and Ombudsman Offices: National Experiences Throughout the World’ cua nhom tac gia Kamal Hossain, Leonard F. Besselink, Haile Selassie Gebre Selassie, Edmond Volker, Nxb.
Martinus Nijhoff Publishers, 2000. Cuốn sách là công trình nghiên cứu kha dày dặn hon 800 trang về mô hình cơ quan nhân quyền quốc gia thông qua phân tích mô hình Thanh tra Quốc hội của 23 nước trên thế giới, qua đó đúc rút những kinh nghiệm trong việc tổ chức và thành lập loại cơ quan này từ đó đề xuất cách thức vận dụng Thanh tra Quốc hội trong vấn đều thúc day và bảo vệ nhân quyền ở những nước mới chuyên từ chế độ nhà nước phi dân chủ sang nhà nước dân chủ cụ thé là ở nước Cộng hoa dân chủ liên bang Ethiopia. auditors, electoral commissions,anti-corruption commissions, and various forms of national human rights institutions”. Reft, (2000), The Role of National Human Rights Institutrions in Good Governance and Human Rights Protection”, Citation: 13 Harv.
? Trích nguyên van: “The classical ombudsman does not have an express human rights mandate. However, in practice, some of these ombudsmen handle some cases that raise a jurisdictional human rights issue that is dealt with by using human rights norms”, Xem: GS. 20 - Sách: “Righting Wrongs: The Ombudsman in Six Continents” của Roy Gregory va Philip James Giddings (chu bién), International Institute of Admistrative Sciences, Nxb. Cuốn sách là tập hợp các bài nghiên cứu về Thanh tra Quốc hội ở nhiều nước khác nhau trên thế giới của các chuyên gia trong giới nghiên cứu về pháp luật, khoa học chính tri.