PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do lựa chọn đề tài Học viên lựa chọn nghiên cứu đề tài “Biện pháp tạm giam: nghiên cứu so sánh luật tố tụng hình sự Liên bang Nga và kinh nghiệm cho Việt Nam” xuất phát từ những lý do chủ yếu sau đây: Thứ nhất, bảo đảm quyền con người trong việc áp dụng biện pháp tạm giam là chủ trương lớn đã được chuyển hóa thành yêu cầu về chính sách hình sự. Cụ thể, về mặt chính trị, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam thể hiện qua việc ban hành một số văn bản như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/1/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới nhằm đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng nhà nước pháp quyền và cải cách tư pháp và Nghị quyết số 48- NQ/TW ngày 26/5/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020 đều nhấn mạnh việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp và chính đáng của công dân. Nghị quyết số 49- NQ/TW ngày 02 tháng 06 năm 2005 của Bộ chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, vấn đề hoàn thiện pháp luật TTHS và nâng cao chất lượng, hiệu quả giải quyết vụ án hình sự yêu cầu: “Xác định rõ căn cứ tạm giam; hạn chế việc áp dụng biện pháp tạm giam đối với một số loại tội phạm; thu hẹp đối tượng người có thẩm quyền quyết định việc áp dụng các biện pháp tạm giam”.
Như vậy, đây vừa là yêu cầu chiến lược lâu dài trong cải cách pháp luật hướng đến bảo vệ quyền con người, quyền công dân của Đảng Cộng sản, vừa là yêu cầu cấp thiết trong giải quyết tình trạng áp dụng biện pháp tạm giam vốn gây ra nhiều oan, sai trong thời gian qua. Thứ hai, về thực trạng lập pháp đối với biện pháp tạm giam. Hiến pháp năm 2013 và BLTTHS năm 2015 đã ghi nhận các quy định về quyền con người, quyền cơ bản của công dân. Trong hệ thống các biện pháp cưỡng chế TTHS thì biện pháp tạm giam chiếm vị trí đặc biệt quan trọng, là biện pháp ngăn chặn có tính chất nghiêm khắc nhất.
Áp dụng biện pháp tạm giam luôn dẫn đến việc hạn chế quyền tự do của cá nhân, hạn chế một số quyền cơ bản của công dân như quyền tự do đi lại, quyền bầu cử, ứng cử. Quá trình áp dụng biện pháp này không đúng, gây oan, sai sẽ xâm phạm quyền tự do, dân chủ của công dân cũng như các quyền, lợi ích hợp pháp của con người đã được pháp luật bảo hộ. Mặc dù không ngừng được hoàn thiện dần qua những lần pháp điển hóa, song thực tiễn áp dụng pháp luật TTHS về biện pháp tạm giam trong thời gian qua cho thấy vẫn hàm chứa khả năng xâm phạm đến quyền lợi 2 của người bị cáo buộc phạm tội. Đề tài của luận văn này nhằm so sánh, đối chiếu, đánh giá thực trạng pháp luật TTHS của Liên bang Nga về biện pháp tạm giam với pháp luật hiện hành của Việt Nam, góp phần thực hiện chuyển hóa các kinh nghiệm pháp lý cũng như kinh nghiệm thực thi pháp luật TTHS về biện pháp tạm giam của Liên bang Nga cho Việt Nam, mang lại sự công bằng và nhân văn cho những người có khả năng bị áp dụng biện pháp này.
Thứ ba, về thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam. Đó là việc tạm giam bị can, bị cáo một số trường hợp không đúng căn cứ; sử dụng biện pháp tạm giam như là một biện pháp nghiệp vụ điều tra; tình trạng tạm giam bị can, bị cáo “không thời hạn”. Những sai sót đó đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, dẫn đến việc hạn chế mục đích cần đạt được của TTHS nói chung và biện pháp tạm giam nói riêng.1 Nghiên cứu này so sánh, đối chiếu giữa Việt Nam và Liên bang Nga để đánh giá thực tiễn áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam kết hợp với trang bị nhận thức mới về vấn đề này của người hay cơ quan tiến hành tố tụng, kiến nghị một số giải pháp trên cơ sở chọn lọc kinh nghiệm từ Liên bang Nga nhằm khắc phục tình trạng tạm giam tùy tiện, bảo đảm quyền con người cho người bị cáo buộc phạm tội trong quá trình tạm giam. Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài “Biện pháp tạm giam: nghiên cứu so sánh luật tố tụng hình sự Liên bang Nga và kinh nghiệm cho Việt Nam” nhằm giải quyết những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên.
Tình hình nghiên cứu 2. Khảo sát tình hình nghiên cứu đề tài Biện pháp tam giam là một trong những biện pháp cơ bản và được áp dụng phổ biến nhất, đồng thời lại là biện pháp có sự tác động đến quyền tự do thân thể của bị can, bị cáo. Do đó biện pháp này cũng nhận được sự quan tâm, nghiên cứu của nhiều tác giả trong nước và nước ngoài. Các kết quả nghiên cứu được đăng tải đa dạng trên các dạng ấn phẩm nghiên cứu.
Cụ thể như sau: Nhóm tài liệu nghiên cứu cơ bản về biện pháp tạm giam thông qua các ấn phẩm là giáo trình, sách chuyên khảo, đề tài khoa học 1 Những sai sót trong thủ tục tố tụng là một trong những nguyên nhân của các vụ án oan sai xảy ra trong thời gian vừa qua. Chẳng hạn như vụ án Nguyễn Thanh Chấn, Vụ án Hàn Đức Long. Xem thêm: Hội đồng Thẩm phán - Tòa án Nhân dân Tối cao (2013), Quyết định tái thẩm số 18/2013/HS-TT ngày 06-11-2013 về vụ án hình sự Nguyễn Thanh Chấn về tội “Giết người”, Hà Nội; Hội đồng thẩm phán - Tòa án Nhân dân tối cao (2014), Quyết định giám đốc thẩm số 20/2014/HS-GĐT ngày 22/11/2014 về vụ án hình sự Hàn Đức Long về các tội “Hiếp dâm”, “Giết người” và “Hiếp dâm trẻ em, Hà Nội; 2 3 Tiêu biểu và căn bản là Giáo trình Luật TTHS Việt Nam thể hiện quan điểm của giới luật học tại Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội về các biện pháp ngăn chặn, như sau: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế TTHS được quy định trong pháp luật TTHS, do người có thẩm quyền tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang, người có lệnh truy nã hoặc người bị nghi là phạm tội, nhằm ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội, không để họ cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc sẽ tiếp tục phạm tội cũng như nhằm bảo đảm cho việc thi hành án. Với mục đích như vậy, biện pháp ngăn chặn trong TTHS khác với biện pháp cưỡng chế khác và với hình phạt trong luật hình sự.2 Tương tự, tác giả Trần Quang Tiệp cho rằng các biện pháp cưỡng chế là cách thức mang tính quyền lực nhà nước do cơ quan, người có thẩm quyền áp dụng theo trình tự, thủ tục được pháp luật TTHS quy định, tác động lên tư tưởng, hành vi của người tham gia tố tụng buộc họ phải thực hiện những nghĩa vụ của mình nhằm bảo đảm cho việc thực hành hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.3 Ở một cách tiếp cận khác, tác giả Nguyễn Trọng Phúc đi từ khái niệm, bản chất pháp lý của biện pháp ngăn chặn cho rằng: Biện pháp ngăn chặn là biện pháp cưỡng chế nhà nước mang tính chất phòng ngừa do người có quyền hạn được quy định trong BLTTHS áp dụng đối với người liên quan đến tội phạm chưa bị khởi tố, bị can, bị cáo khi có căn cứ cụ thể nhằm ngăn chặn tội phạm, bảo đảm cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.4 Trong cách tiếp cận này, tác giả đã làm sâu sắc thêm những quyền tự do mà người bị áp dụng biện pháp ngăn chặn bị hạn chế bao gồm: tự do đi lại, bất khả xâm phạm về thân thể.
Bàn về căn cứ và thẩm quyền áp dụng BPNCTG, từ khá sớm, tác giả Mai Bộ trong cuốn sách chuyên khảo “Các biện pháp ngăn chặn trong Luật tố tụng hình sự Việt Nam” lại đề cập đến căn cứ và thẩm quyền áp dụng các biện pháp ngăn chặn thông qua viện phân tích các quy định trong BLTTHS. Trong đó tác giả phân tích chi tiết các quy định của pháp luật về các biện pháp ngăn chặn, luận giải và nêu ra các ý kiến xung quanh việc áp dụng biện pháp ngăn chặn.5 2 Khoa Luật - ĐHQG Hà Nội (2019), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nguyễn Ngọc Chí - Lê Lan Chi (đồng chủ biên), Nxb. ĐHQG Hà Nội, Hà Nội, tr. 3 Trần Quang Tiệp (2005), Về tự do cá nhân và biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự, Nxb.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr. 4 Nguyễn Trọng Phúc (2015), Chế định các biện pháp ngăn chặn theo luật tố tụng hình sự Việt Nam, Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.45 5 Mai Bộ (1997), Các biện pháp ngăn chặn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội.63 3 4 Đề tài khoa học “Những vấn đề lí luận về bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật TTHS trong giai đoạn xây dựng nhà nước pháp quyền Việt Nam” do các tác giả Lê Văn Cảm, Nguyễn Ngọc Chí, Trịnh Quốc Toản đồng chủ biên.
Đề tài đã đặt ra góc nhìn bảo vệ quyền con người trong chính các quy định của pháp luật hình sự và TTHS, trong đó có các quy định về các biện pháp ngăn chặn. Các tác giả cho rằng đây là hoạt động cấp bách của quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền tại Việt Nam, nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả áp dụng pháp luật, tăng cường dân chủ và công bằng xã hội. Đề tài cũng đưa ra những kết luận về mối quan hệ giữa áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn trong TTHS với vấn đề bảo vệ quyền con người.6 Nên kết luận hẹp lại là mối quan hệ giữa biện pháp tạm giam với vấn đề bảo vệ quyền con người, và trích dẫn phần nội dung liên quan đó vào. Đề tài khoa học “Luật TTHS Việt Nam với việc bảo vệ quyền con người” chủ trì bởi tác giả Nguyễn Ngọc Chí cũng đặt ra nền tảng nghiên cứu là quyền con người gắn với hoạt động TTHS.
Tác giả khẳng định mối quan hệ khăng khít giữa việc áp dụng, thay đổi huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn với hoạt động bảo đảm một cách tốt nhất các quyền cơ bản của con người.