CHƯƠNG 1: TONG QUAN VE HUYỆN THƯỜNG TÍN VÀ NGUON TƯ LIỆU ĐỊA BẠ 1.1 Vài nét về huyện Thường Tín 1.1 Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên Thường Tín hiện nay là một trong số 30 đơn vị hành chính cấp quận, huyện, thi xã thuộc thành phố Hà Nội. Huyện Thường Tin nằm về phía Nam thành phó, có giáp giới như sau: Phía Bắc giáp huyện Thanh Trì (Hà Nội), phía Đông giáp sông Hồng - ranh giới tự nhiên với hai huyện Văn Giang và Khoái Châu (tinh Hưng Yên), phía Tây giáp huyện Thanh Oai (Hà Nội), phía Nam giáp huyện Phú Xuyên (Hà Nội). Về địa hình, huyện Thường Tín nằm trọn vẹn trong vùng châu thổ sông Hồng, được hình thành cùng với quá trình kiến tạo của sông Hồng và sông Nhuệ. Toàn bộ địa hình của huyện là đồng bằng tương đối bằng phăng, độ cao so với mực nước biên từ 2 đên 4m.
Đất đai huyện Thường Tín được bồi đắp bởi phù sa của hai con sông lớn. Phía Đông là sông Hong, chảy qua địa phận các xã Ninh Sở, Hồng Vân, Tự Nhiên, Chương Dương, Lê Lợi, Thống Nhat, Van Diém, mang lai nhiéu thuan loi vé mat giao thông vận tải cũng như đánh bat thủy sản. Sông Nhué ở phía Tây, chảy qua địa phận các xã Khánh Hà, Hiền Giang, Tiền Phong, Tân Minh, Nguyễn Trãi, Dũng Tiến, Nghiêm Xuyên sau đó chảy vào địa phận huyện Phú Xuyên tại xã Phượng Duc. Hệ thống đê điều đã được xây dựng, bồi đắp từ lâu đời nay dọc theo hai trién sông nhăm đảm bảo cho nhân dân định cư cũng như tạo điều kiện phát triển kinh tế, xã hội.
Nhờ sự bồi đắp của sông Hồng và sông Nhuệ, đất đai trong toàn huyện tương đối màu mỡ, tang canh tác dày, thành phan cơ giới đất chủ yêu là đất thịt nhẹ đến đất thịt trung bình. Bên cạnh sông ngòi, hệ thống kênh mương của huyện tạo điều kiện phát triển nông nghiệp và ngành nuôi trồng, đánh bắt thủy sản. Nhờ nguồn nước dôi dào được tạo bởi hệ thông sông và kênh mương nên việc tưới tiêu trên địa 15 bàn huyện có nhiều thuận lợi, tạo điều kiện cho người dân thâm canh tăng vụ. Bên cạnh trồng lúa, nông nghiệp huyện còn tăng cường trồng hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày và sản xuất nhiều vụ trong năm.
Tuy nhiên, huyện vẫn tồn tại một số khó khăn như lượng nước phân bố không đồng đều, lượng dòng chảy về mùa hạ lớn (chiếm 70%-80%), trong khi mùa khô thường xuyên thiếu nước, gây khó khăn cho tưới tiêu và giao thông. Chất lượng nguồn nước bị ảnh hưởng do tình trạng ô nhiễm diễn ra ngày càng tram trong. Về điều kiện khí hậu, do nằm trong khu vực đồng băng Bắc Bộ, huyện Thường Tín thuộc khu vực nhiệt đới gió mùa, khí hậu ôn hòa với 4 mùa rõ rệt. Giờ nang trung bình hang năm là 1.700 giờ; lượng mưa trung bình hàng năm từ 1.700mm; độ âm không khí trung bình từ 85%-87%.
Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,3°C. Khí hậu hai hòa là điều kiện để tự nhiên phát triển cũng như hoạt động sản xuất của con người diễn ra thuận lợi, đặc biệt là các hoạt động trong sản xuất nông nghiệp.2 Lich sử, kinh tế, văn hóa, xã hội Diện tích tự nhiên toàn huyện Thường Tín hiện nay là 13.041ha, trong đó đất sản xuất nông nghiệp là 6.524ha, đất chuyên dùng là 2.535ha, đất ở là 1. Dân số toàn huyện là 254.300 người, mật độ dân số là 1.950 nguoi/km2 [40, tr. Điều kiện dân số tạo ra nhiều cơ hội về nhân lực, nguồn lao động trong phát triển kinh tế, đồng thời cũng là thách thức về vấn đề việc làm, trình độ lao động trước những yêu câu ngày càng cao của xã hội.
Huyện Thường Tín có hệ thống đường giao thông thủy bộ thuận lợi cho phát triển kinh tế và sinh hoạt của người dân. Về đường bộ có hai tuyến đường huyết mạch chạy dọc huyện là quốc lộ 1A dài 17,2km (trong lịch sử, đây là đường Thiên lý chạy qua địa bàn huyện) và đường cao tốc Pháp Vân — Cầu Giẽ dài 17km. Bên cạnh đó, huyện có các tuyến đường tỉnh lộ, huyện lộ chạy qua địa bàn huyện. Tỉnh lộ 427 (trước đây là đường 71) từ đốc Vân La (xã Hồng Vân) cắt ngang quốc lộ 1A tại thị tran Thường Tín, từ đó nối sang phía Tây huyện đi vào địa phận 16 xã Thanh Thùy, huyện Thanh Oai.
Đường thủy trên sông Hồng là tuyến giao thông huyết mạch từ lâu đời, đến nay vẫn còn những cảng lớn, như cảng Hồng Vân, cảng Vạn Điểm. nối sang địa phận tỉnh Hưng Yên và xuôi về các tỉnh Hà Nam, Thái Bình, Nam Định. Đặc biệt, Thường Tín là huyện phía Nam thủ đô có tuyến đường sắt Thống Nhất Bắc - Nam chạy qua 11 xã, thị tran gom các xã Duyên Thái, Nhị Khê, Văn Bình, Thi tran Thuong Tin, Ha Hồi, Quất Động, Thắng Lợi, Tô Hiệu, Văn Tự, Vạn Điểm và Minh Cường, có tổng chiều dài 17km với hai ga chính là ga Thường Tín và ga chợ Tía (Tô Hiệu). Huyện Thường Tín có nhiều điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế, nhất là nông nghiệp và thủ công nghiệp.
Theo số liệu thống kê năm 2019, diện tích lúa ca năm của huyện là 8.474ha, năng suất lúa đạt 57,7 tạ/ha [40, tr. 373], sản lượng là 48.853 tấn; diện tích cây hàng năm là 11.719ha, diện tích cây trồng lâu năm là 642ha đạt sản lượng 9.327 tắn; diện tích cây rau là 45. 391-393], đứng thứ 5/18 huyện ngoại thành. Thường Tín là một trong những địa phương cung cấp một lượng rau xanh lớn cho thành phố Hà Nội.
Thứ hai, về chăn nuôi, Thường Tín có số lượng gia súc là 891 con trâu, 1.679 con lợn, số lượng gia cầm là 1.234 con cho sản lượng 53 tan thịt trâu, 137 tan thịt bò, 7.082 tan thịt lợn [40, tr. 406-416], góp phần quan trọng giải quyết nhu cầu thị trường tiêu thụ thực phẩm trong huyện và nội thành Hà Nội. Trong ngư nghiệp, diện tích nuôi trồng thủy sản là 1.018ha, sản lượng 4. Đặc biệt, nông nghiệp Thường Tín có sự thay đổi mạnh mẽ, tích cực với việc xây dung 16 mô hình nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, 12 chuỗi liên kết sản xuất, tiêu thụ, chế biến, giết mô lợn, gia cam.
17 Trong công nghiệp xây dựng, trước yêu cầu của công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thời gian gần đây, huyện đã tích cực triển khai nhanh chóng, kịp thời những chính sách kích cầu, phát triển kinh tế công thương nghiệp của Thành phó, nhờ đó kinh tế huyện đạt được nhiều bước tiễn quan trọng. Trên địa bàn huyện thời gian gần đây hình thành các khu công nghiệp mới như: Khu công nghiệp phía Bắc Thường Tín; khu công nghiệp Hà Bình Phương năm trên địa phận các xã: Hà Hồi, Văn Bình, Liên Phương; khu công nghiệp Phụng Hiệp ở vị trí bốn xã Dũng Tiến, Tô Hiệu, Thắng Lợi và Nghiêm Xuyên; cụm công nghiệp Quất Động trên địa phận xã Quất Động; cụm công nghiệp Duyên Thái năm ở xã Duyên Thái. Trong năm 2020, Ủy ban Nhân dân thành phó Hà Nội quyết định thành lập cụm công nghiệp Thăng Lợi (xã Thăng Lợi) và cụm công nghiệp Tiền Phong ở xã Tiền Phong. Tính đến nay, huyện có 11 cụm công nghiệp được đưa vào hoạt động với hơn 1.
Việc xây dựng và phát triển các cụm công nghiệp góp phần thúc đây phát triển ngành công nghiệp và xây dựng, thúc day quá trình dịch chuyển cơ cấu kinh thế theo hướng tăng tỷ trọng khu vực kinh tế công nghiệp xây dựng và dịch vụ, giảm tỷ trọng khu vực kinh tế nông nghiệp, giải quyết vân dé việc làm va nâng cao thu nhập cho nhân dân. Đặc biệt, trong thủ công nghiệp, huyện vốn nổi tiếng là “đất danh hương, đất trăm nghề”. Trên địa bàn huyện có nhiều làng nghề truyền thống được hình từ lâu đời cũng như các làng nghề mới xuất hiện trong thời gian gần đây. Theo số liệu thống kê, toàn huyện hiện nay có khoảng 126 làng làm nghề thủ công, trong đó có 43 làng được công nhận là làng nghề.
Về cơ bản, các làng nghề huyện Thường Tín được chia theo các nhóm nghề như sau: Nhóm nghề thủ công mỹ nghệ: nghề thêu ở các xã Thang Lợi, Dũng Tiến, Quất Động, Từ Vân; nghề cào bông, bông len ở làng Trát Cầu xã Tiền Phong; nghề kham trai, son mài ở các làng Hạ Thái, Duyên Trường (xã Duyên Thái); nghề điêu khắc ở các làng Nhân Hiền (xã Hiền Giang), Thượng Cung (xã Tiền Phong), Thụy 18 Ứng (xã Hòa Bình); nghề tiện ở các làng Nhị Khê, Trung Thôn (xã Nhị Khê); nghề mộc ở làng Định Quán (xã Tiền Phong) và các làng thuộc xã Vạn Điểm. Nhóm nghề dệt và tơ lụa, tiêu biểu như làng Cống Xuyên, xã Nghiêm Xuyên. Nhóm nghề chế biến nông sản thực phẩm như nghề làm bánh dày ở làng Thượng Đình, xã Nhị Khê. Nhóm nghề cơ khí-kim khí như làng Liễu Nội (xã Khánh Hà), làng Nguyên Hanh (xã Văn Tự).
Nhóm nghề mây, tre, giang đan như các làng Bằng Sở, Đại Lộ, Xâm Dương, đều thuộc xã Ninh Sở. Các làng nghề truyền thống ở huyện Thường Tin góp phan tạo nên các thế hệ thợ thủ công lành nghè, nghệ nhân có trình độ kỹ thuật cao, tạo ra nhiều sản phẩm mỹ nghệ độc đáo, trở thành những sản phẩm hàng hóa có giá trị nghệ thuật, kinh tế được người tiêu dùng lựa chọn, tin tưởng. Các làng nghề và nghề thủ công mỹ nghệ giữ vai trò quan trọng trong sản xuất và đời sống nhân dân, phản ánh nét đẹp văn hóa trong nhiều phong tục, tập quán làng xã ở nhiều nơi trong huyện. Với ngành dịch vụ, trong bối cảnh ngành dịch vụ trong nước và quốc tế phát triển nhanh chóng, huyện Thường Tin với nhiều lợi thé trong phát triển du lịch, dich vụ đã chủ động thực hiện nhiều chủ trương, chính sách nhằm khai thác tối đa nguồn tài nguyên ở địa phương dé phát triển du lịch dịch vụ.077 cơ sở kinh doanh và thương nghiệp.
Trên cơ sở đó, huyện đã đạt được nhiều thành tựu về mặt về kinh té, riêng giai đoạn 2016-2020 đạt doanh thu 74. Trong năm 2020, tông giá sản xuất trong khu vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và xây dựng của huyện đạt tỷ trọng 57,33%; khu vực thương mại — dịch vụ chiếm tỷ trọng 38,23%; khu vực nông nghiệp chiếm 4,44%. Mức thu nhập bình quân đầu người của huyện là 54 triệu đồng/người/ năm. Giá trị sản xuất nông nghiệp đạt 145 triệu đồng/ha.
19 Về văn hóa, huyện Thường Tín là một vùng đất văn hiến lâu đời. Một trong những biểu hiện cho đến hiện nay, toàn huyện có khoảng 462 công trình tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó có 120 di tích đã được xếp hạng (61 di tích cấp quốc gia và 59 di tích cấp thành phố).