đặt vấn đề, mô hình toán học đã xây dựng, các công cụ toán học đã sử dụng và kết quả thu được. Trường hợp 2: Mô hình và kết quả không phù hợp với thực tiễn. Khi đó, cần tìm hiểu nguyên nhân và hạn chế. Mô hình toán học xây dựng đã phù hợp chưa, có phản ánh được đầy đủ thực tiễn hay không? Nếu chưa cần xây dựng lại, điều chỉnh sao cho phù hợp.
Tuy nhiên, trong thực tế dạy học, nhằm đơn giản hóa và làm cho vấn đề trở nên dễ hiểu hơn đối với học sinh, giáo viên cần điều chỉnh theo cơ chế sau: - Tìm hiểu, xây dựng cấu trúc, làm sáng tỏ, phân tích, đơn giản hóa vấn đề, xác định giả thuyết, tham số, biến số trong phạm vi của vấn đề thực tế. - Thiết lập mối liên hệ giữa các giả thuyết khác nhau đã đưa ra. - Lựa chọn và sử dụng hiệu quả phương pháp giải quyết vấn đề và quá trình mô hình hóa. - Lựa chọn và sử dụng mô hình hóa phù hợp với tình huống thực tế cũng như tính toán đến sự phức tạp của nó.
- Tìm hiểu các ưu điểm và hạn chế của mô hình đã đưa ra, sau đó cải tiến mô hình cho phù hợp với thực tiễn. - Hiểu được ý nghĩa của mô hình toán học trong hoàn cảnh thực tế có độ cao phức tạp cao hơn. - Kiểm tra tính hợp lý và tối ưu của mô hình đã xây dựng. Năng lực mô hình hóa Toán hoc.
Năng lực mô hình hóa Toán học là năng lực gắn liền với cấu trúc mô hình hóa, tức là chuyển đổi tình huống “thực tiễn” dưới dạng Toán học, xây dựng mô hình Toán học từ các tình huống thực tiễn dựa trên các công cụ toán học, giải thích các mô hình Toán học theo nghĩa “thực tế”. a) Đối với học sinh: Cần phải vận dụng các kỹ năng khác nhau như kỹ năng giao tiếp, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng hoạt động nhóm để hiện thực hóa mô hình hóa Toán học. b) Đối với giáo viên: - Cần trang bị đủ kiến thức và kỹ năng để hướng dẫn học sinh thực hiện các hoạt động mô hình hóa Toán học. - Giáo viên đóng vai trò là người điều phối, hỗ trợ tư vấn hơn là người giảng dạy theo cách truyền thống.
- Năng lực quản lý lớp học của giáo viên cũng rất là quan trọng và cần thiết. - Giáo viên cần đưa ra những tiêu chí, yêu cầu hoàn thành và hỗ trợ học sinh trong quá trình thực hiện mô hình hóa. - Tình huống phải phù hợp với trình độ của học sinh, phải kích thích tính tò mò của học sinh và học sinh có thể sử dụng các kiến thức Toán học đã biết để giải quyết vấn đề của tình huống.5 Tổ chức hoạt động mô hình hóa trong dạy học Toán. Sơ đồ các bước tổ chức hoạt động mô hình hóa trong dạy học toán: 7 1.
Năng lực phát hiện vấn đề. Năng lực phát hiện vấn đề trong môn Toán là năng lực hoạt động trí tuệ của học sinh khi đứng trước những vấn đề, những bài toán cụ thể, có mục tiêu và tính hướng đích cao đòi hỏi phải huy động khả năng tư duy tích cực và sáng tạo nhằm tìm ra lời giải cho vấn đề. Một số biện pháp tăng khả năng phát hiện vấn đề cho học sinh: - Sử dụng đặc biệt hóa, khái quát hóa và tương tự hóa. - Sáng tác bài toán.
- Chuyển đổi bài toán. Năng lực giải quyết vấn đề. Năng lực giải quyết vấn đề là tổ hợp các năng lực thể hiện ở kỹ năng (thao tác tư duy và hoạt động) trong hoạt động học tập nhằm giải quyết có hiệu quả những nhiệm vụ của bài toán. Một số biện pháp tăng khả năng giải quyết vấn đề cho học sinh: - Khai thác triệt để giả thuyết của bài toán để tìm lời giải.
- Tìm hiểu lời giải cho bài toán. - Tìm sai lầm của một lời giải. Một số biểu hiện của năng lực giải quyết vấn đề Toán học. - Hiểu được bản chất của các kiến thức Toán học, hiểu được sự biểu hiện, ý nghĩa thực tiễn của các kiến thức Toán học trong chương trình.
- Có khả năng phát hiện, xác định, tìm hiểu, phân tích và chuyển hóa các tình huống thực tiễn thành các tình huống toán học và ngược lại. - Đưa ra kế hoạch và các giải pháp, từ đó chọn giải pháp phù hợp để gải quyết tình huống thực tiễn. Để học sinh hiểu được các cách vận dụng toán học vào thực tiễn, cần cho học sinh hiểu được bản chất của đạo hàm là gì; những khái niệm khác nhau của đạo hàm và ý nghĩa của chúng. Đó là những khái niệm cơ bản nhưng học sinh thiếu sót.
Các yếu tố hình thành năng lực giải quyết vấn đề. Gồm 4 yếu tố: - Năng lực hiểu vấn đề: Là khả năng của cá nhân xác định và hiểu được vai trò của các thông tin, đưa ra các phán đoán có cơ sở, gắn kết các thông tin và kiến thức đã biết. Gồm năng lực nhận dạng và phát biểu vấn đề, năng lực xác định và giải thích thông tin. - Năng lực tìm ra giải pháp: Là khả năng của cá nhân sử dụng các thông tin và 8 kiến thức đã biết để rút ra những kết luận và đưa ra những quyết định đi đến giải pháp.
Bao gồm: năng lực thu thập và đánh giá thông tin, năng lực xác định cách thức giải quyết vấn đề. - Năng lực thực hiện giải pháp: Là khả năng của cá nhân sắp xếp các thông tin và kiến thức đã biết để triển khai giải pháp. Bao gồm: năng lực xây dựng kế hoạch và năng lực trình bày giải pháp, điều chỉnh. - Năng lực nghiên cứu sâu giải pháp: Là khả năng của cá nhân xem xét, kiểm nghiệm để đưa ra giải pháp mới và vấn đề mới trên cơ sở các thông tin có được từ hoạt động giải quyết vấn đề.
Bao gồm: Năng lực đề xuất giải pháp mới, năng lực xây dựng vấn đề mới, năng lực vận dụng giải pháp vào tình huống mới, năng lực phát triển giải pháp. Khi sử dụng dạy học bằng mô hình hóa trong môn Toán, giáo viên cần lưu ý: - Mức độ “ ngoài toán học ” trong các vấn đề giao cho học sinh có thể khác nhau. - Dạy học mô hình hóa có thể kết hợp với dạy học dựa trên dự án. - Một vấn đề ngoài toán học có thể xuất hiện nhiều mô hình toán học khác nhau và dẫn đến nhiều giải pháp thực tiễn khác nhau.
- Điểm khó khăn thường gặp trong quá trình mô hình hóa là bước chuyển giữa hai phạm vi “ thực tiễn ” và “ toán học ”. Thông qua dạy học bằng mô hình hóa trong môn Toán, học sinh có cơ hội phát triển: Năng lực đặc thù Năng lực chung và phẩm chất chủ yếu NL mô hình hóa toán học Năng lực GQVĐ và sáng tạo Nl GQVD toán học Phẩm chất trách nhiệm NL giao tiếp toán học II. Cơ sở thực tiễn: 2. Tổng quan dạy học mô hình hóa Toán học 2.
Trên thế giới Từ những năm 1990, Singapore đã chú trọng vào quá trình giải quyết vấn đề trong chương trình môn Toán. Bộ Giáo dục Singapore đã đưa ra khuyến nghị về dạy và học môn Toán là phải đặt trọng tâm vào việc lập luận và giao tiếp toán học, liên kết các ý tưởng toán học, xây dựng mô hình hóa và ứng dụng. Trong đó, chủ đề mô hình hóa và ứng dụng phải được đưa vào tất cả các cấp học. Chương trình môn Toán hiện hành của Singapore được cắt giảm 30% so với chương trình cũ, tập trung phát triển năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh.
9 Chương trình môn Toán ở Thụy Điển được bắt đầu đổi mới từ năm 1965 và mô hình hóa dần được đưa vào chương trình với mức độ tăng dần và thể hiện rõ nhất vào năm 1994. Điểm nhấn mạnh nhất đó là thiết kế, xây dựng và sử dụng mô hình toán học. Mô hình toán học là khái niệm trọng tâm trong chương trình sách giáo khoa môn Toán ở Thụy Điển ở mọi cấp học. Bloom (2007) phân biệt sự khác nhau giữa hai thuật ngữ mô hình hóa toán học và ứng dụng toán học.
Quá trình mô hình hóa tập trung vào sự chuyển đổi từ thế giới ngoài toán học vào thế giới toán học, trong khi đó ứng dụng toán học thì tập trung vào chiều ngược lại. Như vậy, vấn đề mô hình hóa và gắn toán học với thực tiễn rất được coi trọng trong chương trình sách giáo khoa của nhiều nước trên thế giới và chương trình đánh giá học sinh quốc tế. Ở Việt Nam Các phương pháp dạy học giải quyết vấn đề, mô hình hóa,… đã được các nhà khoa học ở Việt Nam quan tâm từ rất sớm. Ở Việt Nam có rất nhiều đề tài nghiên cứu về việc đổi mới các phương pháp dạy học toán ví dụ như: - Nguyễn Thị Tân An (2013), Xây dựng các tình huống dạy học hỗ trợ quá trình toán học hóa, Tạp chí Khoa học, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, (48), Tr.
- Tạ Thị Tú Anh (2017), mô hình hóa trong dạy học hệ bất phương trình bậc nhất hai ẩn lớp 10, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, Trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. Thực trạng dạy học mô hình hóa Toán học ở trường phổ thông nói chung và ở trường THPT Cửa Lò hiện nay. Những năm gần đây, môn Toán ở trường THPT nói chung và ở Trường THPT Cửa Lò nói riêng đã có nhiều thay đổi tích cực về phương pháp dạy học. Phần lớn giáo viên đã nhận thức được việc cần phải đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực, hiểu được vai trò của việc sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát triển năng lực học sinh như: dạy học thảo luận theo nhóm, dạy học nêu và giải quyết vấn đề….
Một số giáo viên đã thật sự đầu tư, nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy để kích thích hứng thú học tập, phát triển các kĩ năng, năng lực cần thiết cho học sinh. Bên cạnh đó phần lớn giáo viên đang dạy học theo định hướng nặng về nội dung và trang bị kiến thức. Các giáo viên còn lúng túng trong xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập, phục vụ dạy học và kiểm tra đánh giá theo hướng phát triển năng lực, nhất là khi xây dựng các câu hỏi “mở”, các bài tập gắn với thực tiễn.