phần mở đầu và kết luận, luận án đƣợc cấu trúc thành 4 chƣơng, nhƣ sau: Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu các vấn đề liên quan đến luận án, cơ sở lý luận và khái quát địa bàn nghiên cứu Chƣơng 2. Các nguồn lực sinh kế và một số chính sách có liên quan đến sinh kế của ngƣời Khơ mú tại khu tái định cƣ ở huyện Thanh Chƣơng, tỉnh Nghệ An Chƣơng 3. Hoạt động sinh kế của ngƣời Khơ mú tại khu tái định cƣ ở huyện Thanh Chƣơng, tỉnh Nghệ An Chƣơng 4.
Một số vấn đề đặt ra đối với sinh kế và đề xuất giải pháp hƣớng đến sinh kế bền vững cho ngƣời Khơ mú tại nơi tái định cƣ 9 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÁC VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Tình hình nghiên cứu của các tác giả ngoài nước 1. Nghiên cứu về sinh kế Trong khoảng hai thập kỷ trở lại đây, các nghiên cứu về sinh kế đã đƣợc các học giả trên thế giới quan tâm, có nhiều công trình nghiên cứu về các loại hình sinh kế đã đƣợc công bố, qua đó, cho thấy một bức tranh đa dạng về chủ đề nghiên cứu này trên thế giới.
Sinh kế đã thu hút đƣợc sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế học và các lĩnh vực khác, trong đó có dân tộc học/nhân học. Conway [112] là những ngƣời tiên phong khi đƣa ra nội hàm của khái niệm sinh kế và sinh kế bền vững, theo đó sinh kế bao gồm các khả năng, tài sản, và các hoạt động cần thiết để kiếm sống. Sinh kế bền vững cần phải đƣợc xem xét không chỉ ở lĩnh vực môi trƣờng mà cả ở lĩnh vực xã hội. Nghiên cứu cho rằng có rất nhiều yếu tố quyết định đến sinh kế của con ngƣời, trong đó giới tính là một yếu tố quyết định mang tính phổ biến của các hoạt động sinh kế.
Một ngƣời đƣợc sinh ra, trƣởng thành và hòa nhập xã hội thì học nghề trong quá trình đó để có một kế sinh nhai mang tính rất tự nhiên, ví dụ nhƣ một ngƣời canh tác với đất đai và công cụ, ngƣời chăn gia súc với động vật, ngƣời sống trong rừng với cây cối, ngƣời đánh cá với thuyền và đồ đạc, hoặc ngƣời bán hàng với cửa hàng. Mỗi ngƣời trong số này có thể lần lƣợt tạo ra một hộ gia đình mới hoặc các hộ gia đình trong cùng một nghề nghiệp. Một số ngƣời khác thì thích ứng với sinh kế nhƣ là một phần đƣợc xác định bởi các yếu tố xã hội, kinh tế và sinh thái môi trƣờng 10 luan an hoặc một hộ gia đình cũng có thể chọn một sinh kế, đặc biệt là thông qua giáo dục và di cƣ. Trong sinh kế thì những ngƣời khá giả thƣờng có nhiều lựa chọn hơn những ngƣời nghèo, và sự lựa chọn đƣợc mở rộng hơn thƣờng đƣợc tạo ra bởi tăng trƣởng kinh tế.
Sinh kế có thể ở nhiều cấp độ khác nhau, phổ biến nhất để mô tả là ở cấp độ hộ gia đình, thƣờng là một nhóm ngƣời ăn chung, ở chung và chia sẻ lợi ích dƣới một mái nhà. Nghiên cứu của Khanya [123] đã áp dụng khung sinh kế bền vững để tiến hành phân tích về thực trạng sinh kế nhằm thực hiện xóa đói giảm nghèo ở miền Nam và Trung Phi. Nghiên cứu này đã phân tích tổng thể các điểm mạnh và các mối liên kết vĩ mô - vi mô trong cộng đồng. Bên cạnh đó, nghiên cứu này cũng đã, tiến hành từ tổng quan các chính sách ở các cấp chính quyền khác nhau có ảnh hƣởng đến sinh kế của ngƣời dân.
Qua đó cho thấy phƣơng thức sinh kế của ngƣời dân rất đa dạng và có mối quan hệ với nhau thông qua những mối quan hệ phức tạp của các hộ gia đình. Henry Bernstein và cộng sự [111] đã tập trung nghiên cứu chủ yếu ở Ấn Độ, Mỹ Latinh và châu Phi cận Sahara. Các tác giả đã giải thích nguồn gốc của nghèo đói, cơ cấu của nền nông nghiệp và ý nghĩa của tình trạng nghèo đói đến đời sống của ngƣời dân. Bên cạnh đó, nghiên cứu cũng đã chỉ ra động lực bên trong của cộng đồng, đó chính là yếu tố quan trọng đối với cuộc sống và sinh kế ở nông thôn.
Qua việc phân tích bối cảnh cụ thể về việc làm, môi trƣờng, sự khác biệt và sức khỏe, nghiên cứu cũng đã phân tích cách ứng phó với khủng hoảng trong sinh kế nông thôn từ góc độ ngƣời dân và cả cấp độ chính quyền. Nghiên cứu còn xem xét các tác động đa dạng của con ngƣời đến thay đổi ở nông thôn và các cơ chế đối phó với khủng hoảng và những ảnh hƣởng khác nhau đến sinh kế nông thôn phát sinh từ sự thay đổi và các chiến lƣợc tồn tại của các cá nhân và hộ gia đình. Nghiên cứu còn mô tả các quá trình chuyển đổi của nông nghiệp đã làm thay đổi cơ bản sinh kế nông thôn ở các nƣớc đang phát triển và xác định một số tình huống khó xử 11 luan an đối với hành động công phát sinh từ chuyển đổi nông nghiệp và khủng hoảng sinh kế nông thôn. Frank Ellis [117], một nhà kinh tế trong lĩnh vực nông nghiệp, đã tập trung chủ yếu vào vùng Đông Phi để trình bày bức tranh đa dạng về đời sống nông thôn khi kết hợp các phƣơng pháp khảo sát có sự tham gia của ngƣời dân nhằm tìm hiểu các quan hệ xã hội, các thể chế, tổ chức và các chiến lƣợc sinh kế của ngƣời dân.
Nghiên cứu của Frank Ellis cũng đã xem xét đa dạng hóa sinh kế nhƣ một chiến lƣợc sống còn của các hộ gia đình nông thôn trong phát triển. Mặc dù vẫn có tầm quan trọng nhƣng hoạt động kinh tế tự cấp tự túc, nuôi trồng của ngƣời dân không thể cung cấp đủ phƣơng tiện sinh tồn của họ ở nông thôn. Phân tích của nghiên cứu cho thấy đa dạng hóa sinh kế trong các phƣơng pháp tiếp cận phát triển nông thôn và các tƣơng tác giữa đa dạng hóa và nghèo đói, năng suất trang trại, quản lý tài nguyên thiên nhiên và quan hệ giới ở khu vực nông thôn và chính sách về đa dạng sinh kế ở nông thôn là vô cùng quan trọng đối với cuộc sống của ngƣời dân. Khi nghiên cứu về sinh kế của các tộc ngƣời ở miền bắc Lào, G.
Giordano [124] cho thấy, trong khoảng hơn hai thập kỷ qua, chính phủ Lào đã ban hành nhiều chính sách liên quan đến sở hữu và sử dụng đất đai tại các bản làng vùng cao với mục đích tạo điều kiện phát triển kinh tế và giảm thiểu việc suy thoái đất đai. Nghiên cứu này chỉ ra rằng, mặc dù có một chính sách rõ ràng của chính phủ nhằm cải thiện cả điều kiện kinh tế xã hội và môi trƣờng, sự thay đổi các hoạt động sinh kế của ngƣời dân phụ thuộc nhiều vào điều kiện khác nhau của môi trƣờng. Mặc dù đất đai bị suy thoái nhƣng nó vẫn đóng một vai trò rất quan trọng trong sinh kế của ngƣời dân. Trong sinh kế của mình, ngƣời dân buộc phải thích ứng với quá trình suy thoái đất đai cả về mặt chất lƣợng và số lƣợng, bằng cách tăng cƣờng lao động và sử dụng đất một cách triệt để hơn.
12 luan an Dƣới góc nhìn của một nhà nhân học, Anan Ganjanapan [110] lại tập trung vào các khía cạnh của văn hóa trong việc quản lý nguồn tài nguyên thiên nhiên, chủ yếu là đất đai và rừng ở khu vực miền bắc Thái Lan. Nạn phá rừng đã trở nên phổ biến và rất nghiêm trọng, dẫn đến xói mòn đất ảnh hƣởng đến sinh kế của ngƣời dân vùng cao. Trong khi đó, các hoạt động sinh kế của ngƣời dân tại các khu vực hạ lƣu ngày càng trở nên khó khăn do tình trạng thiếu nƣớc và ô nhiễm môi trƣờng, gây ra những xung đột giữa các cộng đồng tộc ngƣời ở miền núi và vùng đồng bằng. Tác giả cho rằng, các vấn đề ở các vùng cao phía bắc Thái Lan là rất phức tạp và dẫn đến sự mâu thuẫn giữa các nhóm dân tộc khác nhau sinh sống trong các cộng đồng, và giữa con ngƣời đất đai, thị trƣờng, và nhà nƣớc gây mất an ninh trong quyền sở hữu đất đất đai.
Tác giả lập luận rằng an ninh quyền sử dụng đất là rất quan trọng cho sự phát triển của vùng cao ở Thái Lan, việc di chuyển dân và không tôn trọng văn hóa, hoạt động sinh kế truyền thống của cộng đồng tộc ngƣời sẽ làm mất ổn định ở khu vực này. Đƣợc viết dƣới quan điểm của một nhà nhân học, nhƣng các khái niệm, phƣơng pháp nghiên cứu và kết luận trong công trình nghiên cứu này sẽ giúp các nhà kinh tế, các nhà hoạch định chính sách hiểu rõ hơn về sự phức tạp của các vấn đề đất đai, đặc biệt là liên quan đến các quyền đối với đất đai và tài nguyên rừng từ một góc nhìn nhân học. Trong một nghiên cứu về nhân học kinh tế, John Clammer [49] đã đề cập đến những vấn đề khác nhau của hoạt động sinh kế, từ vấn đề lý thuyết đến các thực tiễn hoạt động sinh kế ở các quốc gia khác nhau. Ông cho rằng, nhân học kinh tế là ngành nghiên cứu mặt vật chất của đời sống trong bối cảnh xã hội và văn hóa, từ khâu sản xuất, phân phối và tiêu thụ “Đối với nhà nhân học thì các quan niệm kinh tế cũng là những quan niệm xã hội, nêu rõ một cách sâu sắc những giá trị cơ bản, thế giới quan và những định hướng về đạo lý của một xã hội.
Những ý tưởng kinh tế cơ bản về tín dụng, tiết kiệm, vốn và sự trao đổi hay cách làm ăn, tuy có thể là những định nghĩa trừu 13 luan an tượng chung, ứng dụng được nhiều cho xã hội loài người, song vẫn là những khái niệm xã hội-văn hóa nền tảng” [49, tr. Một trong những đóng góp quan trọng của John Clammer là đƣa ra cách phân loại các hệ thống kinh tế, theo đó có 4 loại: 1) Phân loại dựa trên cơ sở xã hội; 2) Phân loại dựa theo sinh thái; 3) Phân loại theo phƣơng thức sản xuất; 4) Phân loại theo chủ đề - văn hóa.