NGUYEN QUANG TUYẾN (Phủ hiên) (SACH CHUYEN KHAO) ST) NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT PHAP LUAT DAT BAI VIET NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY Biên mục trên xuất bản phẩm của Thư viện Quốc gia Việt Nam Pháp luật đất đai Việt Nam từ năm 1945 đến nay : Sich chuyên khảo / Nguyễn Quang Tuyến (ch.), Trân Thị Minh Chau, Nguyễn Đình Bồng, Nguyễn Thị Thu Hồng. : Chính trị quốc gia. Luật đất dai 3. Sách tham khảo 346.
NGUYEN QUANG TUYẾN (Phú hiện! PHAP LUAT DAT BAI VIET NAM TU NAM 1945 ĐẾN NAY (SÁCH CHUYEN KHẢO) NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA SỰ THẬT HÀ NỘI - 2018 CHỦ BIÊN PGS. NGUYEN QUANG TUYẾN TAP THỂ TÁC GIA: PGS. NGUYEN QUANG TUYẾN PGS. TRAN THỊ MINH CHAU TS.
NGUYEN DINH BONG 'ThS. NGUYEN TH] THU HỒNG. LỮI NHÀ XUẤT BẢN Đất đai luôn có vị trí, vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của mỗi đất nước. Ở nước ta, đất đai được xác định là tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế và là thành phần quan trọng của môi trường sống.
Do có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng như vậy nên đất đai luôn là vấn để được Đảng và Nhà nước ta chú trọng quan tâm. Điều này thể hiện rõ ở việc hiện nay hệ thống pháp luật đất đai ở nước ta là một trong những hệ thống pháp luật đồ sộ nhất bao gồm rất nhiều các văn bản. quy phạm pháp luật đo nhiều cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Ngay từ khi mới ra đồi (năm 1945), Nhà nước ta đã ban hành hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật về đất đai phù hợp với từng giai đoạn lịch sử phát triển của đất nước.
Đặc biệt thể hiện rõ nét nhất là từ sau thời kỳ đổi mới (từ năm. 1986 đến nay), Nhà nước đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đất dai đáp ứng các yêu cầu quản lý và sử dụng đất trong cơ chế thị trường. Hệ thống pháp luật trong lĩnh vực đất dai đã nhiều lẫn được điều chỉnh, sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với tình hình phát triển của đất nước. o Nhằm giúp bạn đọc nắm được những văn dé cơ bản về hệ thống pháp luật đất đai Việt Nam qua các thời kỳ, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật xuất bản cuốn sách Pháp luật đất đai Việt Nam từ năm 1945 đến nay (sách chuyên khảo) của tập thể tác giả là các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, giảng viên về pháp luật đất đai biên soạn, PGS.
Nguyễn Quang Tuyến làm chủ biên. Qua ba chuyên dé, tương ứng với ba vấn dé cơ bản nhất của pháp luật dat đai, cuốn sách làm rõ những nội dung cơ bản của pháp luật về sở hữu đất đai, pháp luật về quản lý nhà nước về đất đai và sử dụng đất ở Việt Nam từ năm 1946 đến nay; nêu ba những thành tựu, hạn chế và để xuất các giải pháp để tiếp. tục hoàn thiện hệ thống pháp luật dat đai Việt Nam trong thời gian tối. Xin giới thiệu cuốn sách với bạn đọc.
Tháng 10 năm 2018 NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRI QUỐC GIA SỰ THAT LOI NOI ĐẦU Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, hệ thông pháp. luật đất dai có tác động, ảnh hưởng mạnh mẽ đến toàn bộ. đời sống kinh tế - xã hội của đất nước. Hệ thống pháp luật đất đai ra đời đã góp phần tích cực thúc đẩy sự phát triển đất nước; công tác quản ly nhà nước về đất dai từng bước di vào nền nếp; quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dung đất được pháp luật ghi nhận và bảo hộ; thị trường bất động sản được hình thành và phát triển không chỉ giải quyết bai toán đất đai cho các nhu cầu sử đụng đất của xã hội mà còn biến đất đai trở thành nguồn lực, nguồn vốn to lớn để phát triển đất nước, v.
Đặc biệt, hệ thống pháp luật đất dai trong thời kỳ đổi mới toàn diện đất nước (từ năm 1986 đến. nay) đã có bước phát triển mạnh mẽ với việc mở rộng các quyền của người sử dụng đất và cho phép họ được chu) quyển sử dụng đất trong thời hạn giao đất, cho thuê đất; xác lập khung pháp lý bình đẳng về quyền và nghĩa vụ của. mọi chủ thé sử dụng đất; nâng cao tính công khai, minh bạch về thông tin đất đai đi đôi với cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính về đất đai, chú trọng việc tham vấn của người dân, để cao trách nhiệm giải trình của cơ quan công. quyền, bảo đảm bình đẳng giới và quyển của các nhóm đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương trong xã hội trong lĩnh vực đất dai và hướng tới việc xác lập mô hình quản trị đất dai hiện đại, v.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, qua thực tiễn thi hành cho thấy, hệ thống pháp luật đất đai còn bộc lộ một số khiếm khuyết, hạn chế chưa đáp ứng yêu câu của công cuộc đẩy mạnh toàn diện đổi mới đất nước và hội nhập quốc tế. Song hành với sự ra đời và phát triển của hệ thống pháp luật Việt Nam, hệ thống pháp luật đất đai đã ghi dấu ấn đậm nét trong lịch sử lập pháp Việt Nam. Do vậy, cần phải tổng kết, đánh giá, nhìn nhận lịch sử xây dựng và phát triển hệ thống pháp luật đất đai nhằm nhận. diện những thành tựu và những hạn chế; trên cơ sở đó, đề xuất các giải pháp tiếp tục hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này trong thời gian tới.
Với ý nghĩa đó, tập thể tác giả biên soạn cuốn sách chuyên khảo Pháp luật đất đai Việt Nam từ năm 1945 đến nay. Do phạm vi nghiên cứu rộng, phức tạp nên nội dung cuốn sách chỉ để cập những vấn để cơ bản, quan trọng nhất của pháp luật đất đai Việt Nam từ năm. 1945 đến nay và còn nhiều vấn đề chưa được nghiên cứu, luận giải thấu đáo, đẩy đủ. Nội dung cuốn sách chuyên khảo Pháp luật đất đai Việt Nam từ năm 1945 đến nay chắc chắn không tránh khỏi những hạn chế, khiếm khuyết và thiếu sót; tập thể tác giả rất mong nhận được góp ý của.
bạn đọc để hoàn thiện và nâng cao chất lượng của cuốn sách nay. Hà Nội, ngày 22-01-2018 'Tập thể tác giả Chuyên để 1 PHÁP LUẬT VỀ SỞ HỮU ĐẤT ĐAI Ở VIỆT NAM TỪ NĂM 1945 ĐẾN NAY PGS. Trần Thị Minh Châu! 1. Lý luận chung về sở hữu đất dai 1.
Lý luận về sở hữu Sở hữu là phạm trù phức tạp, được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau. Dưới giác độ kinh tế - chính trị, theo quan. điểm của Các Mác, sở hữu thuộc phạm trù quan hệ sản xuất, phan ánh quan hệ giữa người với người trong quá trình sản. Theo ông, quan hệ sản xuất bao gồm ba bộ phận: chế độ sở hữu tư liệu sản xuất; chế độ quan lý; chế ộ phân phối của cải.
Quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất sẽ tạo nên phương thức sản xuất. Phương thức sản xuất thống trị quyết định chế độ chính trị phù hợp với nó. Nói ách khác, quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất sẽ quyết định phương thức tổ chức sản xuất và phương thức 1. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh.
phân phối của cải cho những người tham gia vào quá trình sản xuất. Quan hệ sở hữu théng trị được hiện thực hóa dưới một chế độ xã hội nào đó được gọi là chế độ sở hữu. Dưới giác độ kinh tế học thuần túy, quyền sở hữu vật chỉ thực sự có ý nghĩa khi quyển đó đem lại lợi ích cho người chủ sở hữu. Lợi ích ở đây được hiểu là phương tiện thỏa mãn một hoặc một số nhu cầu nào đó của người chủ sở hữu.
Một người chủ sở hữu không nhận được gì từ quyển sở hữu đó thì quyền sở hữu trở thành vô nghĩa. Dudi giác độ quản trị học, sở hữu là một cấu trúc các quan hệ được chế định theo cơ chế phân chia quyền để hiện thực hóa quyền của chủ sở hữu. Theo lý thuyết đại diện, tổ hợp các quyển của chủ sở hữu có thể được phân chia cho nhiều người khác nhau trong bộ máy quản lý của một cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp. Nhìn chung cấu trúc phân chia gồm ba bộ phận: đại diện của chủ sở hữu quyết định các vấn để lớn; người được ủy quyền điều hành; người được chủ sở hữu ủy quyền kiểm tra, giám sat người điều hành.
Tưới giác độ luật học, sở hữu là sự thừa nhận của xã hội đã được luật hóa (hoặc tập quán hóa) quyền của chủ thể được coi là chủ sở hữu đối với một vật nhất định (gọi là tài sản), phân biệt với quyển của người không phải là chủ sở hữu đối với vật đó. Có nhiều cách khác nhau trong phân định quyền của chủ sở hữu đối với vật. Theo lý thuyết “vật quyền”, thì quyền trên tài sản của. mình gọi là quyền sở hữu.
Quyền trên tài sản của người khác được gọi là vật quyền khác (hay vật quyền hạn chế). 10 Theo cách phân định của Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015, quyền sở hữu gồm: quyền chiếm hữu, quyền định đoạt và quyển sử dụng. Quyền chiếm hữu cho phép chủ sở hữu loại trừ người khác ra khỏi vật mà anh ta sở hữu. Quyền này được luật pháp bảo hộ hoặc được thừa nhận theo tập quán.
Quyền định đoạt cho phép chủ sở hữu có thể trao cho người khác quyền chiếm hữu của mình với các điều kiện giao kết giữa hai bên. Các điều kiện giao kết này thường cũng được luật pháp bảo hộ hoặc được mọi người thừa nhận theo thông lệ. Quyển sử dụng cho phép chủ sở hữu tác động dưới hình thái nào đó vào vật sở hữu nhằm phục vụ nhu cầu của chủ sở hữu. Tùy theo vật sở hữu mà phương thức sử dụng có thể khác nhau.
Trong đời sống thực tại, tùy theo các mối quan hệ giao kết giữa các chủ thể khác nhau, một trong ba quyền này có thể được chủ sở hữu ủy quyền cho những người khác theo hợp đồng ủy quyền. Vì thế, thực thi quyền của chủ sở hữu có thể không chỉ là cá nhân hay một nhóm người đồng sở hữu, mà còn bao gồm rất nhiều người trong chuỗi các quan hệ ủy quyền theo quy định của pháp luật. Khi ủy quyền cho người khác, chủ sở hữu chỉ có thể giữ được một. phần quyền của mình theo hợp đồng ủy quyền.