CHƯƠNG 1 CƠ SƠ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÍN DỤNG CHO VAY ĐẦU TƯ CỦA QUỸ ĐẦU TƯ PHÁT TRIỂN 1.1 Tổng quan về tín dụng, rủi ro tín dụng 1. Khái niệm Theo Ngọc Dũng (2011) Tín dụng là một quan hệ kinh tế giữa người cho vay và người đi vay, giữa họ có mối quan hệ với nhau thông qua vận động giá trị vốn tín dụng được biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hàng hoá. Theo Nguyệt Minh (2018) “Tín dụng được xem là một hoạt động giao dịch về tài sản, tài sản này có thể là tiền hoặc hàng hoá, giữa bên cho vay (có thể là ngân hàng hoặc các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiêp (DN) và các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao phần tài sản của mình cho bên đi vay, bên đi vay được sử dụng tài sản đó trong một thời hạn nhất định như theo thỏa thuận đồng thời bên đi vay có trách nhiệm sẽ thực hiện hoàn trả vô điều kiện phần vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến thời gian thanh toán” b. Vai trò Trong Giáo trình tiền tệ- Ngân hàng (2013), tín dụng có các vai trò sau: + Đáp ứng nhu cầu vốn để duy trì quá trình sản xuất được liên tục đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế.
+ Thúc đẩy quá trình tập trung vốn và tập trung sản xuất. + Tín dụng là công cụ tài trợ cho các ngành kinh tế kém phát triển và ngành kinh tế mũi nhọn. + Góp phần tác động đến việc tăng cường chế độ hạch toán kinh tế của các doanh nghiệp. + Tạo điều kiện để phát triển các quan hệ kinh tế với nước ngoài.2 Rủi ro tín dụng a.
Khái niệm Có nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng, trong đó: Theo Timothy W. Koch (2005) định nghĩa Rủi ro tín dụng là sự rủi ro tiềm ẩn của thu nhập thuần và trị giá của vốn tín dụng xuất phát từ việc khách hàng không thanh toán hay thanh toán trễ hạn. 10 Theo Ủy ban Basel (2005) thì Rủi ro tín dụng là khả năng mà người đi vay hoặc đối tác của ngân hàng thất bại trong việc thực hiện theo các điều khoản trả nợ đã thỏa thuận. Rủi ro tín dụng còn được gọi là rủi ro vỡ nợ, phát sinh từ việc không chắc chắn liên quan đến việc không hoàn trả các khoản nợ từ phía khách hàng cho ngân hàng.
Fitch (1997): “Rủi ro tín dụng là loại rủi ro xảy ra khi người vay không thanh toán được nợ theo thỏa thuận hợp đồng dẫn đến sai hẹn trong nghĩa vụ trả nợ. Cùng với rủi ro lãi suất, RRTD là một trong những rủi ro chủ yếu trong hoạt động cho vay của ngân hàng.” Theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 01 năm 2013 của NHNN Việt Nam thì rủi ro tín dụng ngân hàng được hiểu đó là là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết. Theo Hiệp ước Basel I (1988), RRTD là rủi ro do không chắc chắn về khả năng hay sự sẵn sàng của đối tác trong việc đáp ứng các nghĩa vụ được qui định trong hợp đồng. Theo Viện nghiên cứu khoa học ngân hàng (1998), RRTD là tình trạng người đi vay không có khả năng hoàn trả được lãi và gốc hay cả hai.
Theo Norden và Weber (2010), RRTD là khả năng người vay thực hiện hay không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ, gây tổn thất cho các TCTD. Vì vậy RRTD là khả năng (xác suất) không trả nợ của khách hàng nên các TCTD cần nhận diện nguyên nhân của nó càng rõ, càng kỹ thì càng tốt. Từ các quan điểm trên, tác giả cho rằng RRTD là “RRTD là rủi ro xảy ra trong quá trình cho vay đầu tư của tổ chức tín dụng, phát sinh do khách hàng vay không thực hiện đúng các điều khoản của hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi vay, gây ra những tổn thất về tài chính và khó khăn trong hoạt động kinh doanh của tổ chức tín dụng. Phân loại rủi ro tín dụng Theo Nguyễn Thị Minh Nguyệt (2015), căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, Rủi ro tín dụng được phân chia thành hai loại là rủi ro giao dịch và rủi ro danh mục.
11 - Rủi ro giao dịch là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh do những hạn chế trong quá trình thẩm định hồ sơ vay như công tác xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng và quá trình giao dịch giữa tổ chức tín dụng và khách hàng đi vay. Rủi ro giao dịch gồm 3 bộ phận chính: Rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ. + Rủi ro lựa chọn là rủi ro có liên quan đến quá trình đánh giá và phân tích tín dụng, cũng tức là rủi ro xảy ra trong quá trình thẩm định dự án, đánh giá mức độ hiệu quả để ra quyết định cho vay. + Rủi ro đảm bảo là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, là rủi ro xảy ra trong quá trình khách hàng đang vay vốn tại tổ chức tín dụng, bao gồm các phát sinh từ các tiêu chuẩn bảo đảm như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại tài sản đảm bảo, chủ thể bảo đảm, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên giá trị của tài sản đảm bảo.
+ Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến công tác quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. - Rủi ro danh mục: là rủi ro tín dụng mà nguyên ngân phát sinh là do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay, được phân chia thành hai loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. + Rủi ro nội tại: là rủi ro xuất phát từ các yếu tố, đặc điểm riêng có, mang tính riêng biệt trong mỗi chủ thể để đi vay hoặc ngành, lĩnh vực kinh tế. Nó xuất phát từ đặc điểm hoạt động hoặc đặc điểm sử dụng vốn của khách hàng vay vốn.
+ Rủi ro tập trung: là trường hợp Quỹ Đầu tư phát triển địa phương tập trung vốn cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng, cho vay quá nhiều doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực kinh tế, hoặc trong cùng một vùng địa bàn nhất định, hoặc cùng một loại hình cho vay có rủi ro cao. Nếu căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng, Rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại: - Rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn (rủi ro đọng vốn): Khi thiết lập mối quan hệ tín dụng, Quỹ Đầu tư phát triển địa phương và khách hàng phải quy ước về khoản thời gian hoàn trả nợ vay. Tuy nhiên đến thời hạn mà Quỹ Đầu tư phát triển địa phương 12 vẫn chưa thu hồi được vốn vay, những tổn thất xảy ra trong trường hợp này gọi là rủi ro không hoàn trả nợ đúng hạn. - Rủi ro không có khả năng trả nợ: Là rủi ro trong trường hợp khách hàng đi vay đã mất khả năng chi trả.
Do đó Quỹ Đầu tư phát triển địa phương phải thanh lý tài sản bảo đảm của khách hàng để thu nợ. Tổng quan về Quỹ Đầu tư phát triển địa phương 1. Khái niệm Quỹ Đầu tư phát triển địa phương Quỹ Đầu tư phát triển địa phương là một tổ chức tài chính để huy động các nguồn lực tài chính phục vụ cho mục tiêu phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật theo chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đã được HĐND tỉnh, thành phố phê chuẩn. Hoạt động của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương bổ trợ cho các kênh đầu tư khác hiện có và tạo nên một mạng lưới đầu tư hoàn chỉnh trên địa bàn các tỉnh, thành phố.
Như vậy Quỹ Đầu tư phát triển địa phương là một tổ chức tài chính của chính quyền địa phương thực hiện chức năng đầu tư tài chính và đầu tư phát triển. Quỹ Đầu tư phát triển địa phương có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có bảng cân đối kế toán và con dấu riêng. Quỹ Đầu tư phát triển địa phương hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, bảo toàn và phát triển vốn, tự bù đắp chi phí và tự chịu rủi ro. Vai trò của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương Tiếp nhận vốn ngân sách địa phương, vốn tài trợ, viện trợ; huy động các nguồn vốn trung và dài hạn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật để tạo nguồn vốn thực hiện các dự án phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội của địa phương.
Tiếp nhận, quản lý nguồn vốn uỷ thác từ các tổ chức cá nhân trong và ngoài nước để thực hiện các hoạt động theo hợp đồng uỷ thác; phát hành trái phiếu chính quyền địa phương theo uỷ quyền của UBND tỉnh, thành phố để huy động vốn cho ngân sách địa phương. Nhận uỷ thác quản lý hoạt động của Quỹ Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, Quỹ phát triển nhà ở và một số Quỹ khác. Thực hiện đầu tư trực tiếp vào các dự án, cho vay đầu tư, góp vốn thành lập do- anh nghiệp; uỷ thác cho vay đầu tư, thu hồi nợ. Đặc trưng cơ bản của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương Mô hình Quỹ Đầu tư phát triển có những loại hình kinh doanh riêng, khác cơ bản so với các định chế tài chính như Ngân hàng thương mại, các Công ty bảo hiểm, Công ty tài chính.
Quỹ đầu tư phát triển là công cụ của địa phương, trực thuộc địa phương, do đó chịu sự chi phối, chỉ đạo từ chính quyền địa phương về mặt định hướng và chiến lược phát triển tổng thể, kế hoạch hoạt động ngắn hạn và dài hạn từ Trung ương về nghiệp vụ hoạt động. Hoạt động cho vay đầu tư của Quỹ Đầu tư phát triển địa phương a.