Mở đầu Chương 2: Cơ sở lý luận về rủi ro tái tài trợ vốn và quyết định nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp Chương 3: Phương pháp nghiên cứu Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ RỦI RO TÁI TÀI TRỢ VÀ QUYẾT ĐỊNH NẮM GIỮ TIỀN MẶT 2. Rủi ro tái tài trợ và quyết định nắm giữ tiền mặt 2. Rủi ro tái tài trợ Khi tái tài trợ, các doanh nghiệp phải đối mặt với các nguy cơ thay đổi về điều kiện thị trường vốn hoặc thị trường vốn không hoàn hảo có thể dẫn đến tái tài trợ với lãi suất cao hơn (Froot và cộng sự, 1993). Các doanh nghiệp cũng đối mặt với nguy cơ người cho vay đánh giá thấp giá trị của công ty và không tiếp tục tái tài trợ điều này làm cho các doanh nghiệp đứng trước nguy cơ thiếu vốn phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của họ, làm ảnh hưởng đến tính thanh khoản của doanh nghiệp (Diamond (1991) và Sharpe (1991)).
Ngoài ra, chi phí phát sinh từ rủi ro tái tài trợ có thể làm tăng các vấn đề về đầu tư dưới mức (Almeida và cộng sự, 2012). Mối quan hệ giữa rủi ro tái tài trợ và tiền mặt nắm giữ Đã có nhiều nghiên cứu chỉ ra mối liên hệ giữa rủi ro tái tài trợ với quyết định nắm giữ tiền mặt, tuy nhiên, trong mỗi nghiên cứu các tác giả chỉ đi vào phân tích một góc độ trong mối liên hệ giữa rủi ro tái tài trợ với quyết định nắm giữ tiền mặt, chưa thể hiện được tổng thể các mối liên hệ giữa hai nhân tố này. Harford, Klasa và Maxwell (2014) đã lần đầu tiên đi vào phân tích tổng thể mối quan hệ giữa rủi ro tái tài trợ với quyết định nắm giữ tiền mặt. Kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy tồn tại mối quan hệ có ý nghĩa thống kê giữa hai nhân tố này.
Đồng thời, kết quả phân tích định lượng trên số liệu các doanh nghiệp Mỹ từ năm 1980 đến 2008 cho thấy rủi ro tái tài trợ có sự chi phối mạnh mẽ lên số lượng tiền mặt mà doanh nghiệp quyết định nắm giữ, kết quả hồi quy số liệu của các doanh nghiệp trong suốt thời kì này thể hiện rủi ro tái tài trợ giải thích đến 28% sự thay đổi của quyết định nắm giữ tiền mặt của doanh nghiệp. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 Cũng theo nghiên cứu của Harford, Klasa và Maxwell (2014) một trong những ý nghĩa mở rộng của mối quan hệ giữa kỳ hạn nợ và nắm giữ tiền mặt là cung cấp cái nhìn về xu hướng tăng nắm giữ tiền mặt theo thời gian. Trong khi số nợ dài hạn có liên quan đến tài sản của các công ty không đổi theo thời gian nghiên cứu từ 1980 đến 2008 thì kỳ hạn nợ trung bình của các khoản nợ này đã rút ngắn đáng kể, và do đó, rủi ro tái tài trợ cũng tăng lên đáng kể trong giai đoạn này. Một trong những lý do quan trọng cho sự rút ngắn thời gian đáo hạn của các khoản nợ là vai trò của ngân hàng, như là những người cho vay ngày càng tăng do sự tăng trưởng của thị trường cho vay hỗn hợp (Sufi, 2007).
Sự phát triển của thị trường cho vay hỗn hợp có thể cho phép các ngân hàng chia sẻ rủi ro thông quan nhóm các nhà đầu tư gồm ngân hàng và các tổ chức đầu tư khác. Nhìn chung, kỳ hạn của các khoản vay ngân hàng có xu hướng giảm, phần nợ dài hạn đến hạn trong 03 năm tới (thước đo chính về rủi ro tái tài trợ) đã tăng 16,6%. Hơn nữa sự gia tăng này còn mạnh hơn khi tác giả kiểm soát yếu tố quyết định kỳ hạn nợ trong nợ dài hạn của doanh nghiệp. Cụ thể, trong năm 2008, nhóm công ty có nợ dài hạn đến hạn trong vòng 3 năm tới cao hơn 66.3% so với năm 1980, các công ty này có đặc điểm giống nhau.
Nghiên cứu của Harford, Klasa và Maxwell (2014) dựa trên giả thiết rằng nắm giữ tiền mặt cho phép một công ty giảm những tác động bất lợi từ rủi ro tái tài trợ. Ví dụ, tiền mặt dự trữ có thể cho phép công ty tiếp tục đầu tư một cách đầy đủ vào các cơ hội tăng trưởng. Tương tự, nếu công ty không được tái tài trợ, tiền mặt nắm giữ lớn sẽ cho phép công ty chống lại việc bán tài sản chính của công ty để trả các khoản nợ đến hạn … Tương quan rủi ro tái tài trợ và quyết định nắm giữ tiền mặt được đánh giá qua thước đo trung gian là ảnh hưởng của kì đáo hạn nợ lên lượng tiền mặt nắm giữ của các công ty. Giả thuyết này là những giả thuyết có cơ sở dựa trên các kết quả nghiên cứu trước đó.
Theo Faulkender và Petersen (2006), hầu hết các công ty được đánh giá bởi chủ nợ về việc họ có thể vay bao nhiêu cũng như điều kiện cho vay, kết quả là những người cho vay có quyền quyết định về các điều khoản cho vay, trong đó kì hạn nợ là một ví dụ (Roberts và Sufi, 2009). Vì vậy khi doanh nghiệp nhận thấy chỉ có thể cung TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 cấp tín dụng ngắn hạn tại một mức lãi suất tối ưu nào đó, một công ty có thể tăng nắm giữ tiền mặt để giảm rủi ro tái tài trợ. Giả thuyết của Harford, Klasa và Maxwell (2014) cũng có thể áp dụng cho các công ty có quyền kiểm soát nhiều hơn đối với kỳ hạn nợ của họ, dù là thông qua việc phát hành nợ đại chúng hay dựa vào sức mạnh tín dụng (lợi thế của công ty) cho phép họ lựa chọn các khoản vay ngân hàng (Johnson, 2003). Cụ thể, khi các công ty này ra quyết định kết hợp kỳ hạn nợ và nắm giữ tiền, họ sẽ cân nhắc lợi ích mang lại từ các khoản nợ có kỳ hạn ngắn và rủi ro tái tài trợ vốn đồng thời xem xét cách nắm giữ tiền để giảm rủi ro tái tài trợ vốn.
Jensen (1986), Harford (1999), Dittmar và Mahrt-Smith (2007), và Harford cùng cộng sự (2007) cung cấp bằng chứng về chi phí đại diện cho việc nắm giữ tiền mặt nhiều. Các tác giả cho rằng quản lý các đối tượng nợ có kỳ hạn ngắn thường xuyên theo dõi bởi những người tham gia thị trường vốn, lợi ích của những người quản lý trong các doanh nghiệp có nợ ngắn hạn tương đồng với lợi ích cổ đông (theo Rajan và Winton (1995), Stulz (2000), và Harvey cùng cộng sự (2004)). Thực tế chi phí đại diện nên thấp hơn đối với những công ty này giúp giảm thiểu chi phí thông thường liên quan đến việc dự trữ tiền mặt lớn hơn. Hơn nữa, bởi vì các khoản nợ ngắn hạn có xu hướng được nợ ngân hàng và các ngân hàng có thể có nhiều thông tin hơn về người vay so với những người cho vay khác, giám sát của họ sẽ góp phần làm giảm chi phí đại diện (theo James (1987), Lummer và McConnell (1989), Rauh và Sufi (2010)).
Nghiên cứu của Harford, Klasa và Maxwell (2014) cũng cho thấy, mối quan hệ giữa rủi ro tái tài trợ và nắm giữ tiền mặt là mối quan hệ chi phối 2 chiều có ý nghĩa thống kê. Nếu những người cho vay cung cấp cho công ty các khoản cho vay ngắn hạn công ty có thể quyết định nắm giữ tiền nhiều hơn để tối thiểu hóa rủi ro tái tài trợ vốn. Tuy nhiên, nắm giữ tiền mặt cao hơn hiện tại đồng thời có thể làm tăng xu hướng cho chủ nợ để cung cấp cho công ty các khoản nợ ngắn hạn và cho công ty chấp nhận các khoản vay như thế. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.
Động cơ nắm giữ tiền mặt Một doanh nghiệp quyết định nắm giữ tiền mặt nhiều hơn số họ cần xuất phát từ các nhóm động cơ chính gồm: động cơ giao dịch, động cơ phòng ngừa, động cơ đại diện. Thực vậy, vấn đề này đã được kiểm định qua nghiên cứu thực nghiệm của Bates và cộng sự (2009) với đề tài “Tại sao các công ty Mỹ nắm giữ nhiều tiền mặt hơn họ cần?”. Bài nghiên cứu này được thực hiện đối với các công ty công nghiệp tại Mỹ, tác giả đã chỉ ra rằng tỷ lệ tiền mặt trên tổng tài sản của các công ty công nghiệp Mỹ đã tăng gấp đôi trong giai đoạn từ 1980-2006. Để giải thích cho việc tăng tỷ lệ tiền mặt nắm giữ nhóm tác giả này đã đưa ra các động cơ gồm: động cơ giao dịch, động cơ phòng ngừa, động cơ đại diện.
Động cơ giao dịch Lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt của công ty giúp họ tránh được các chi phí giao dịch phát sinh khi họ phải thường xuyên tiếp cận với các nguồn vốn bên ngoài. Trong trường hợp, các công ty phải đối mặt với các khoản chi phí giao dịch liên quan đến việc chuyển đổi các tài sản tài chính không bằng tiền (noncash financial assets) thành tiền mặt để sử dụng cho mục đích thanh toán thì các mô hình tài chính cổ điển (ví dụ như Baumol (1952), Miller và Orr (1966)) giúp họ xác định được nhu cầu tiền mặt tối ưu. Động cơ phòng ngừa Nếu xem tiền mặt như là một công cụ để phòng ngừa các rủi ro có thể xảy ra trong tương lai thì có thể khẳng định rằng các công ty có tỷ tệ tiền và các khoản tương đương tiền trên tổng tài sản cao hơn thì thì sẽ phản ứng tốt hơn với các cú sốc tài chính, giảm thiểu được các thiệt hại do các cú sốc này gây ra. Ngoài ra, nếu công ty thiếu tiền hụt tiền mặt trong tương lai cho các cơ hội đầu tư buộc họ phải sử dụng nguồn vốn từ bên ngoài với chi phí cao hơn do sự hiện diện của vấn đề thông tin bất cân xứng (Opler và cộng sự, 1999) Những lợi ích của việc nắm giữ tiền mặt đối với các công ty có cơ hội phát triển lớn là làm giảm vấn đề đầu tư dưới mức khi có các vấn đề về bất cân xứng thông tin TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 dẫn đến chi phí tài chính bên ngoài cao hơn (Kim và cộng sự, 1998) và (Opler và cộng sự, 1999).
Cùng quan điểm này, các công ty có vấn đề bất cân xứng thông tin lớn hơn thì nắm giữ tiền mặt nhiều hơn và đối với các công ty này giá trị gia tăng của 1 USD nắm giữ là lớn hơn và ảnh hưởng tích cực của nắm giữ tiền lên đầu tư là rõ ràng hơn (Opler và cộng sự (1999), Faulkender và Wang (2006), Denis và Sibilkov (2010)).