Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu giữ vai trò trụ cột trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo nguồn thu ngoại tệ và mở rộng hội nhập quốc tế của Việt Nam, đặc biệt sau dấu mốc chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Năm 2007, tốc độ tăng trưởng GDP của Việt Nam đạt 8,5%, kim ngạch xuất khẩu đạt 48,4 tỷ USD (tăng 21,5% so với năm 2006) và nhập khẩu đạt 54,11 tỷ USD (tăng 33,1%). Bước sang năm 2008, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tiếp tục gia tăng mạnh mẽ, đạt 143,4 tỷ USD (xuất khẩu ước đạt 62,9 tỷ USD, nhập khẩu ước đạt 80,4 tỷ USD), đưa mức thu nhập bình quân đầu người lên khoảng 1.050 USD.

Tuy nhiên, bối cảnh kinh tế giai đoạn 2008–2009 xuất hiện những biến động phức tạp và khó lường. Cuộc khủng hoảng tín dụng và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt nguồn từ thị trường tài chính Mỹ đã lan rộng, đi kèm với tình trạng lạm phát phi mã chuyển dịch sang nguy cơ thiểu phát trong nước. Khi biên giới thương mại mở rộng và sự bảo hộ tỷ giá từ Nhà nước từng bước thu hẹp, các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam phải đối mặt trực diện với hàng loạt biến cố bất lợi về tài chính. Rủi ro tài chính không chỉ gây thiệt hại cho từng doanh nghiệp đơn lẻ mà còn đe dọa sự phát triển của cả ngành hàng và làm tổn hại đến cán cân thanh toán quốc gia.

Xuất phát từ thực tiễn trên, khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể gồm:

  1. Nghiên cứu những vấn đề lý luận cơ bản về rủi ro tài chính và quản trị rủi ro tài chính trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
  2. Tìm hiểu các nguyên nhân phát sinh rủi ro tài chính và phân tích thực trạng quản lý rủi ro tài chính tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam trong giai đoạn biến động kinh tế vừa qua.
  3. Dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn đã phân tích, đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm phòng ngừa và hạn chế rủi ro tài chính đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam.
  • Đối tượng nghiên cứu: Rủi ro tài chính và hoạt động quản trị rủi ro tài chính trong hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam.
  • Phạm vi nghiên cứu: Khảo sát các dạng rủi ro tài chính và thực trạng quản lý rủi ro tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam, tập trung vào số liệu thực tế giai đoạn 1998–2008 và định hướng điều hành đến năm 2010.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận xây dựng hệ thống lý luận dựa trên các quan điểm học thuật kinh điển và các quy chuẩn thương mại quốc tế:

  • Khái niệm và bản chất rủi ro: Tác giả tổng hợp các định nghĩa của Frank Knight (rủi ro là những bất trắc có thể đo lường được), Allan Willett (rủi ro là sự bất trắc cụ thể gắn với một biến cố không mong đợi), Từ điển Kinh tế học hiện đại năm 1999 (hoàn cảnh một sự kiện xảy ra với xác suất nhất định hoặc quy mô có phân phối xác suất), và quan điểm của Nguyễn Hậu Thân (1991, rủi ro là sự bất trắc gây ra thiệt hại). Từ đó, khóa luận xác định ba tính chất đặc trưng của rủi ro: tính bất ngờ ngoài dự kiến, tính chất gây tổn thất và là sự kiện xảy ra ngoài mong đợi.
  • Phân loại rủi ro: Phân chia theo tính chất (rủi ro suy đoán và rủi ro thuần túy); theo phạm vi ảnh hưởng (rủi ro cơ bản và rủi ro riêng biệt); theo môi trường vĩ mô (rủi ro kinh tế, chính trị, pháp lý, cạnh tranh, thông tin) và môi trường vi mô của doanh nghiệp (rủi ro quản lý, rủi ro chuyên môn nghiệp vụ).
  • Nhận diện nguồn phát sinh rủi ro tài chính trong doanh nghiệp xuất nhập khẩu: Được cấu thành từ 3 nhóm nguồn chính:
    1. Tác động từ thị trường bên ngoài (biến động giá cả hàng hóa, tỷ giá hối đoái, lãi suất ngân hàng).
    2. Hoạt động giao dịch với đối tác (rủi ro hợp đồng, phương thức thanh toán quốc tế, lập bộ chứng từ, logistics, bảo hiểm hàng hải, giám định chất lượng, rủi ro pháp lý và kiện chống bán phá giá).
    3. Nội bộ doanh nghiệp (chính sách nhân sự, hạn chế về quy mô vốn, trình độ công nghệ và năng lực đàm phán).
  • Quy trình quản trị rủi ro tài chính: Mô hình hóa qua quy trình 6 bước gồm: (1) Phân tích thị trường và tác động tới doanh nghiệp; (2) Đánh giá về đối tác kinh doanh; (3) Thỏa thuận điều kiện hợp đồng ngoại thương; (4) Sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro tài chính; (5) Huy động nguồn vốn phù hợp; (6) Đánh giá hiệu quả quản lý rủi ro tài chính.
  • Khung pháp lý và quy tắc điều chỉnh: Chỉ thị số 22/2000/CT-TTg ngày 27/10/2000 của Thủ tướng Chính phủ về chiến lược phát triển xuất nhập khẩu 2001–2010; Quyết định số 346/QĐ-NHNN ngày 13/02/2008 của Ngân hàng Nhà nước; Quyết định số 09/2008/QĐ-NHNN về quản lý cho vay ngoại tệ; Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ (UCP 600) do Phòng Thương mại Quốc tế (ICC) ban hành áp dụng từ tháng 7/2007.

Phương pháp nghiên cứu: Tác giả sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết; phương pháp thống kê mô tả, tổng hợp và so sánh số liệu thứ cấp thu thập từ các báo cáo chính thức của Tổng cục Thống kê, Tổng cục Hải quan, Bộ Công Thương, Ngân hàng Nhà nước và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI).


Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Những vấn đề chung về rủi ro tài chính trong các doanh nghiệp xuất nhập khẩu

Chương này tập trung hệ thống hóa các khái niệm nền tảng về rủi ro và quản trị rủi ro tài chính. Tác giả chỉ rõ rủi ro tài chính xuất phát từ tính biến động nhanh của thị trường tài chính - tiền tệ toàn cầu, kết hợp với các quan hệ kinh tế xuyên biên giới. Sự cần thiết của quản trị rủi ro tài chính được phân tích trên hai bình diện:

  • Đối với Nhà nước: Quản trị rủi ro hiệu quả giúp duy trì nguồn thu ngân sách thông qua thuế thu nhập doanh nghiệp, giảm thiểu gánh nặng chi ngân sách cứu trợ tổn thất, đồng thời ổn định dòng thu ngoại tệ nhằm cân đối cán cân thanh toán quốc tế.
  • Đối với doanh nghiệp: Giúp chủ động kiểm soát chi phí dự phòng tổn thất, bảo toàn lợi nhuận, nâng cao năng lực cạnh tranh và uy tín thương hiệu trên thị trường quốc tế.

Tác giả nhấn mạnh quy trình quản trị rủi ro 6 bước và đề xuất cơ chế phòng ngừa 4 bước trong xử lý tranh chấp thương mại quốc tế: nắm vững luật pháp/thủ tục WTO; xây dựng phương án phòng ngừa; duy trì luồng tài chính trong quá trình điều tra; hợp tác với các cơ quan quản lý và hiệp hội để vận động hành lang.


Chương II: Thực trạng rủi ro tài chính và quản trị rủi ro tài chính ở các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam hiện nay

Chương II phân tích chi tiết diễn biến hoạt động ngoại thương và các biểu hiện rủi ro tài chính thực tế tại Việt Nam giai đoạn 1998–2008.

1. Tình hình xuất nhập khẩu và chính sách thương mại: Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam tăng trưởng liên tục qua các năm, từ mức 31,25 tỷ USD năm 2001 lên 143,40 tỷ USD năm 2008. Khối doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm 24,26 tỷ USD, tương đương 38,7% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2008.

Năm Tổng kim ngạch XNK (tỷ USD) Xuất khẩu (tỷ USD) Nhập khẩu (tỷ USD)
2001 31,25 — —
2002 36,45 — —
2003 45,41 — —
2004 58,46 — —
2005 69,10 — —
2006 84,90 — —
2007 109,21 48,40 54,11
2008 143,40 62,69 80,71

Nguồn: Tổng hợp từ số liệu Tổng cục Thống kê và Tổng cục Hải quan trong văn bản.

Kim ngạch xuất khẩu các nhóm hàng chủ lực năm 2008 ghi nhận: Dầu thô đạt 10,36 tỷ USD (13,75 triệu tấn, giá bình quân tăng 33,6%); Hàng dệt may đạt 9,12 tỷ USD (Hoa Kỳ chiếm gần 56%); Giày dép đạt 4,77 tỷ USD (EU đạt 2,51 tỷ USD, Hoa Kỳ đạt 1,08 tỷ USD); Thủy hải sản đạt 4,51 tỷ USD; Gạo đạt 2,89 tỷ USD (4,74 triệu tấn, giá bình quân 610 USD/tấn); Gỗ và sản phẩm gỗ đạt 2,83 tỷ USD; Máy vi tính và linh kiện điện tử đạt 2,64 tỷ USD; Cà phê đạt 2,11 tỷ USD (1,06 triệu tấn); Cao su đạt hơn 1,60 tỷ USD (658 nghìn tấn); Than đá đạt 1,39 tỷ USD (19,35 triệu tấn).

2. Các dạng rủi ro tài chính điển hình:

  • Tác động từ khủng hoảng tài chính toàn cầu: Thị trường Mỹ chiếm 24% tổng kim ngạch xuất khẩu năm 2007 của Việt Nam suy thoái khiến nhu cầu tiêu dùng thắt chặt; khu vực Đông Á (chiếm 60%–70% vốn đầu tư vào Việt Nam) cắt giảm đầu tư và gia tăng cạnh tranh xuất khẩu.
  • Rủi ro tỷ giá: Mặc dù tỷ giá VND/USD bình quân được kiểm soát biến động ở mức 1%–1,5%/năm, các doanh nghiệp chịu rủi ro lớn khi thanh toán bằng các ngoại tệ thả nổi tự do như EUR, JPY, GBP. Khi biên độ tỷ giá từng bước nới lỏng, nguy cơ bù lỗ tỷ giá trong hợp đồng nhập khẩu gia tăng rõ rệt.
  • Rủi ro biến động giá cả: Việt Nam nhập khẩu 100% xăng dầu nên chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thị trường thế giới. Mặt hàng xuất khẩu như cà phê Robusta sau khi đạt đỉnh giá kỷ lục vào tháng 3/2008 đã giảm mạnh xuống 2.140 USD/tấn vào đầu tháng 4/2008, gây thua lỗ nặng cho các đơn vị đầu cơ tích trữ. Các mặt hàng nông thủy sản thường xuyên chịu tình trạng "được mùa mất giá".
  • Rủi ro lãi suất và thanh khoản: Thực thi Quyết định số 346/QĐ-NHNN ngày 13/02/2008 bắt buộc mua tín phiếu lãi suất 7,8%/năm trong khi lãi suất huy động 12%/năm, các ngân hàng thương mại đã đẩy lãi suất cho vay ra nền kinh tế lên rất cao để bù đắp lỗ. Lãi suất qua đêm trên thị trường liên ngân hàng có thời điểm vượt mức kỷ lục 30%/năm; lãi suất vay ngắn hạn VND tăng từ mức 11,5%–12,5% lên 17,5%–19,5%/năm, cá biệt doanh nghiệp nhỏ phải chịu mức 22%–25%/năm. Quyết định số 09/2008/QĐ-NHNN hạn chế vay USD khiến doanh nghiệp xuất khẩu không tiếp cận được vốn ngoại tệ giá rẻ để thu mua hàng.
  • Rủi ro thanh toán quốc tế và chứng từ: Phương thức nhờ thu và chuyển tiền chỉ chiếm 20% giao dịch nhưng rủi ro không thanh toán rất lớn; phương thức tín dụng chứng từ (L/C) chiếm 80% giao dịch nhưng có tới 80% bộ chứng từ xuất khẩu xuất trình lần đầu bị ngân hàng từ chối thanh toán do sai biệt chứng từ.
  • Rủi ro pháp lý và tranh chấp thương mại: Tính đến hết năm 2008, Việt Nam đã phải đối mặt với 29 vụ kiện chống bán phá giá (tập trung vào thủy sản, giày dép, dệt may, đồ gỗ, xe đạp tại thị trường Hoa Kỳ và EU).
  • Rủi ro logistics và bảo hiểm: Doanh nghiệp có thói quen xuất khẩu theo điều kiện FOB và nhập khẩu theo điều kiện CIF, nhượng toàn bộ quyền vận tải và bảo hiểm cho đối tác nước ngoài. Năng lực các công ty bảo hiểm Việt Nam còn hạn chế với quy mô vốn dưới 80 tỷ đồng, dẫn đến khó khăn khi đòi bồi thường bảo hiểm hàng hải quốc tế.
  • Rủi ro nội tại doanh nghiệp: 90% doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam có quy mô vốn nhỏ.
Quy mô vốn kinh doanh Tỷ lệ doanh nghiệp (%)
Từ 0,5 đến 1 tỷ đồng 26,09%
Từ 5 đến 10 tỷ đồng 7,63%
Từ 10 đến 50 tỷ đồng 9,23%
Từ 200 đến 500 tỷ đồng 0,81%
Trên 500 tỷ đồng 0,48%

Nguồn: Thống kê của Bộ Công Thương tính đến cuối năm 2007 trên 42.000 doanh nghiệp XNK trực tiếp.

Ngoài ra, 80%–90% máy móc công nghệ là ngoại nhập lạc hậu; năng lực đàm phán hợp đồng yếu, phụ thuộc hoàn toàn vào mẫu hợp đồng của bên mua nước ngoài.


Chương III: Một số giải pháp góp phần hạn chế rủi ro tài chính đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam

Dựa trên mục lục và các định hướng trong văn bản, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp:

1. Nhóm giải pháp vĩ mô từ phía Nhà nước và các tổ chức tài chính:

  • Hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý thương mại và ngoại hối phù hợp với thực tiễn thị trường mở và các cam kết WTO.
  • Phát triển và đa dạng hóa các kênh huy động vốn, phát triển thị trường vốn nợ, trái phiếu doanh nghiệp nhằm giảm áp lực phụ thuộc vào nguồn tín dụng ngân hàng thương mại.
  • Mở rộng ứng dụng các công cụ tài chính phái sinh (hợp đồng kỳ hạn, tương lai, quyền chọn, hoán đổi) nhằm giúp doanh nghiệp phòng ngừa rủi ro tỷ giá và biến động giá hàng hóa nguyên liệu.
  • Nâng cao năng lực hỗ trợ tín dụng, dịch vụ tư vấn thanh toán quốc tế và dẫn giải quy tắc UCP 600 của hệ thống ngân hàng thương mại.
  • Phát triển thị trường dịch vụ tài chính, logistics và dịch vụ thông tin thị trường hỗ trợ hoạt động ngoại thương.

2. Nhóm giải pháp vi mô chủ động từ phía doanh nghiệp xuất nhập khẩu:

  • Lựa chọn mua bảo hiểm hàng hóa và bảo hiểm tín dụng xuất khẩu để phân tán rủi ro tài chính khi xảy ra tổn thất vận tải hoặc tranh chấp.
  • Sử dụng nghiệp vụ tín dụng bao thanh toán (factoring) nhằm đảm bảo khả năng thu hồi vốn nhanh, chuyển giao rủi ro không thanh toán của người mua cho đơn vị bao thanh toán.
  • Đa dạng hóa cơ cấu mặt hàng kinh doanh và mở rộng thị trường xuất nhập khẩu nhằm giảm mức độ phụ thuộc vào một vài thị trường truyền thống.
  • Đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ đàm phán hợp đồng ngoại thương; áp dụng quy trình kiểm soát chứng từ chặt chẽ; chủ động xây dựng cơ chế ứng phó tranh chấp thương mại và điều tra chống bán phá giá theo tiêu chuẩn quốc tế.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa toàn diện lý luận: Tổng hợp các quan điểm học thuật về rủi ro và xây dựng sơ đồ quy trình quản lý rủi ro tài chính gồm 6 bước khép kín áp dụng cho doanh nghiệp xuất nhập khẩu.
  • Phản ánh trung thực bức tranh thực tiễn: Khóa luận cung cấp các số liệu thống kê chi tiết về xuất nhập khẩu giai đoạn 1998–2008, chỉ rõ các tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 đến thị trường tiền tệ và thương mại trong nước.
  • Chỉ ra các điểm nghẽn rủi ro cốt lõi: Làm rõ nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ 80% bộ chứng từ xuất khẩu bị từ chối lần đầu, thực trạng 29 vụ kiện chống bán phá giá tính đến năm 2008, và các hệ lụy từ chính sách tiền tệ thắt chặt (Quyết định 346/QĐ-NHNN và Quyết định 09/2008/QĐ-NHNN).
  • Đề xuất giải pháp mang tính ứng dụng cao: Kết hợp đồng bộ giữa giải pháp vĩ mô (phát triển phái sinh, cải cách thị trường vốn) và giải pháp nghiệp vụ vi mô của doanh nghiệp (bao thanh toán factoring, đàm phán hợp đồng, chuyển dịch điều kiện Incoterms từ FOB/CIF).

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Nghiên cứu chủ yếu dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp và số liệu thống kê tổng hợp tính đến đầu năm 2009; chưa triển khai khảo sát định lượng trên mẫu doanh nghiệp thực tế hoặc kiểm định mô hình định lượng rủi ro bằng các công cụ kinh tế lượng; bối cảnh nghiên cứu diễn ra khi cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu 2008 đang trong giai đoạn chuyển biến phức tạp nên một số tác động dài hạn chưa thể đo lường đầy đủ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát thực nghiệm định lượng về mức độ ứng dụng các công cụ tài chính phái sinh tại các doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam; nghiên cứu chuyên sâu về cơ chế quản trị rủi ro thanh toán theo phiên bản UCP mới và đánh giá hiệu quả của nghiệp vụ bao thanh toán (factoring) trong từng ngành hàng cụ thể (như dệt may, thủy sản, nông sản).

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng sử dụng: Giảng viên, sinh viên các chuyên ngành Quản trị kinh doanh, Kinh tế quốc tế, Kinh doanh quốc tế, Tài chính - Ngân hàng; cán bộ quản lý tài chính, nhân viên thanh toán quốc tế và chuyên viên kinh doanh xuất nhập khẩu tại các doanh nghiệp.
  • Nội dung tham khảo trọng tâm: Mô hình quy trình quản lý rủi ro tài chính 6 bước; chuỗi số liệu thống kê kim ngạch xuất nhập khẩu và cơ cấu ngành hàng giai đoạn 1998–2008; các bài học thực tiễn về xử lý sai biệt bộ chứng từ theo UCP 600, phòng chống rủi ro hợp đồng thương mại quốc tế và các giải pháp sử dụng công cụ phái sinh, bao thanh toán.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận phân chia nguồn phát sinh rủi ro tài chính trong doanh nghiệp xuất nhập khẩu thành các nhóm nào?
Tác giả phân chia thành 3 nhóm nguồn chính: (1) Rủi ro phát sinh từ tác động bên ngoài doanh nghiệp (giá cả, tỷ giá, lãi suất); (2) Rủi ro phát sinh từ giao dịch với các đối tác (thanh toán quốc tế, hợp đồng, chứng từ, vận chuyển, bảo hiểm, kiểm định, pháp lý); (3) Rủi ro phát sinh từ chính nội bộ doanh nghiệp (quy mô vốn, công nghệ, nhân sự, quy trình sản xuất và năng lực đàm phán).

2. Quy trình quản trị rủi ro tài chính tại doanh nghiệp xuất nhập khẩu gồm những bước nào?
Quy trình gồm 6 bước: (1) Phân tích thị trường và tác động tới doanh nghiệp; (2) Đánh giá về đối tác kinh doanh; (3) Thỏa thuận điều kiện của hợp đồng ngoại thương; (4) Sử dụng các công cụ phòng ngừa rủi ro tài chính; (5) Huy động nguồn vốn phù hợp với doanh nghiệp; (6) Đánh giá hiệu quả quản lý rủi ro tài chính.

3. Tại sao năm 2008 doanh nghiệp xuất nhập khẩu Việt Nam chịu rủi ro lãi suất rất lớn?
Do Ngân hàng Nhà nước ban hành Quyết định số 346/QĐ-NHNN bắt buộc các ngân hàng thương mại mua tín phiếu với lãi suất thấp 7,8%/năm trong khi lãi suất huy động là 12%/năm, buộc các ngân hàng phải nâng lãi suất cho vay thương mại lên 17,5%–19,5%/năm (doanh nghiệp nhỏ chịu 22%–25%/năm) để bù lỗ; đồng thời lãi suất liên ngân hàng qua đêm có lúc vượt 30%/năm gây khan hiếm thanh khoản.

4. Nguyên nhân nào khiến khoảng 80% bộ chứng từ xuất khẩu xuất trình lần đầu tại ngân hàng bị từ chối?
Nguyên nhân chủ yếu do các doanh nghiệp Việt Nam chưa nắm vững và hiểu chưa đầy đủ các quy định của Quy tắc thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ quốc tế (UCP 600), dẫn đến việc lập chứng từ đòi tiền có sai biệt so với các điều khoản của thư tín dụng (L/C).

5. Tác giả đã đề xuất những giải pháp tài chính vi mô nào để doanh nghiệp chủ động phòng ngừa rủi ro?
Tác giả đề xuất 3 giải pháp trọng tâm: (1) Lựa chọn bảo hiểm thương mại và vận tải phù hợp; (2) Sử dụng nghiệp vụ tín dụng bao thanh toán (factoring); (3) Đa dạng hóa mặt hàng và thị trường kinh doanh nhằm phân tán rủi ro.


Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Vũ Thị Nhung đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về rủi ro và quản trị rủi ro tài chính trong hoạt động thương mại quốc tế, đồng thời phản ánh toàn diện thực trạng biến động kinh tế - tài chính của Việt Nam giai đoạn 1998–2008 dưới tác động của khủng hoảng toàn cầu. Thông qua việc phân tích sâu sắc các rủi ro về tỷ giá, lãi suất, thanh toán L/C và rào cản phòng vệ thương mại, tác giả đã chỉ rõ các điểm yếu nội tại về quy mô vốn, công nghệ và năng lực đàm phán của doanh nghiệp trong nước. Hệ thống giải pháp được đề xuất mang tính đồng bộ, kết hợp giữa việc hoàn thiện chính sách vĩ mô, phát triển công cụ phái sinh với việc chủ động áp dụng bao thanh toán và quy trình quản trị rủi ro chuyên nghiệp tại từng doanh nghiệp xuất nhập khẩu.