phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung chính luận văn đƣợc trình bày trong 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của đề tài nghiên cứu Chƣơng 2: Tƣ duy phê phán qua các phản ví dụ trong Giải tích. Chƣơng 3: Thực nghiệm sƣ phạm - 12 - z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm tư duy Hiện thực xung quanh có nhiều cái mà con ngƣời chƣa biết. Nhiệm vụ của cuộc sống và hoạt động thực tiễn luôn đòi hỏi con ngƣời phải hiểu biết cái chƣa biết đó ngày một sâu sắc, đúng đắn và chính xác hơn, phải vạch ra những cái bản chất và những quy luật tác động của chúng.
Quá trình nhận thức đó gọi là tƣ duy. Tư duy là một quá trình tâm lý phản ánh những thuộc tính, bản chất mối liên hệ và quan hệ bên trong có tính quy luật của sự vật hiện tượng trong hiện thực khách quan mà trước đó ta chưa biết (theo Tâm lý học đại cƣơng - Nguyễn Quang Cẩn). Theo từ điển triết học: "Tư duy, sản phẩm cao nhất của vật chất được tổ chức một cách đặc biệt là bộ não, là quá trình phản ánh tích cực thế giới khách quan trong các khái niệm, phán đoán, lý luận. Tư duy xuất hiện trong quá trình hoạt động sản xuất xã hội của con người và đảm bảo phản ánh thực tại một cách gián tiếp, phát hiện những mối liên hệ hợp quy luật.
Tư duy chỉ tồn tại trong mối liên hệ không thể tách rời khỏi hoạt động lao động và lời nói, là hoạt động chỉ tiêu biểu cho xã hội loài người cho nên tư duy của con người được thực hiện trong mối liên hệ chặt chẽ với lời nói và những kết quả của tư duy được ghi nhận trong ngôn ngữ. Tiêu biểu cho tư duy là những quá trình như trừu tượng hoá, phân tích và tổng hợp, việc nêu lên là những vấn đề nhất định và tìm cách giải quyết chung, việc đề xuất những giả thiết, những ý niệm. Kết quả của quá trình tư duy bao giờ cũng là một ý nghĩ nào đó". Đặc điểm của tư duy Tƣ duy có những đặc điểm cơ bản sau đây: + Tính có vấn đề của tƣ duy Tƣ duy chỉ nảy sinh khi gặp hoàn cảnh có vấn đề.
Đó là những tình huống - 13 - z mà ở đó chỉ nảy sinh những mục đích mới, và những phƣơng tiện, phƣơng pháp hoạt động cũ đã có trƣớc đây trở nên không đủ để đạt đƣợc mục đích đó. Nhƣng muốn kích thích đƣợc tƣ duy thì hoàn cảnh có vấn đề phải đƣợc cá nhân nhận thức đầy đủ, đƣợc chuyển thành nhiệm vụ tƣ duy của cá nhân nghĩa là phải xác định đƣợc cái gì đã biết, cái gì chƣa biết, cần phải tìm và có nhu cầu tìm kiếm. + Tính gián tiếp của tƣ duy Tƣ duy phản ánh sự vật hiện tƣợng một cách gián tiếp bằng ngôn ngữ. Tƣ duy đƣợc biểu hiện bằng ngôn ngữ.
Các quy luật, quy tắc, các sự kiện các mối liên hệ và sự phụ thuộc đƣợc khái quát và diễn đạt trong các từ. Mặt khác những phát minh, những kết quả tƣ duy của ngƣời khác, cũng nhƣ kinh nghiệm cá nhân của con ngƣời đều là những công cụ để con ngƣời tạo ra cũng giúp chúng ta hiểu biết đƣợc những hiện tƣợng có trong hiện thực mà không thể tri giác chúng một cách trực tiếp đƣợc. + Tính trừu tƣợng và khái quát của tƣ duy Tƣ duy có khả năng tách trừu tƣợng khỏi sự vật hiện tƣợng, những thuộc tính, những dấu hiệu cụ thể cá biệt, chỉ giữ lại những thuộc tính thuộc bản chất nhất, chung cho nhiều sự vật hiện tƣợng rồi trên cơ sở đó khái quát các sự vật và hiện tƣợng riêng lẻ khác nhau, nhƣng có những thuộc tính bản chất vào một nhóm, một loại phạm trù, nói cách khác tƣ duy mang tính chất trừu tƣợng hóa và khái quát hóa. Nhờ đặc điểm này mà con ngƣời có thể nhìn vào tƣơng lai.
+ Tƣ duy có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ Tƣ duy của con ngƣời gắn liền với ngôn ngữ, lấy ngôn ngữ làm phƣơng tiện biểu đạt các quá trình và kết quả của tƣ duy. Tƣ duy của con ngƣời không thể tồn tại ngoài ngôn ngữ đƣợc, ngƣợc lại ngôn ngữ cũng không thể có đƣợc nếu không dựa vào tƣ duy. Tƣ duy và ngôn ngữ thống nhất với nhau nhƣng không đồng nhất với nhau không thể tách rời nhau đƣợc. - 14 - z + Tính chất lý tính của tƣ duy Chỉ có tƣ duy mới giúp con ngƣời phản ánh đƣợc bản chất của sự vật hiện tƣợng, những mối liên hệ và quan hệ có tính chất quy luật của chúng.
Nhƣng nói nhƣ vậy không phải tƣ duy phản ánh hoàn toàn đúng đắn bản chất của sự vật hiện tƣợng. Tƣ duy có phản ánh đúng hay không còn phụ thuộc vào chiến thuật và phƣơng pháp tƣ duy nữa. + Tƣ duy có quan hệ mật thiết với nhận thức cảm tính Mối quan hệ này là quan hệ hai chiều: Tƣ duy đƣợc tiến hành trên cơ sở những tài liệu nhận thức cảm tính mang lại, kết quả tƣ duy đƣợc kiểm tra bằng thực tiễn dƣới hình thức trực quan, ngƣợc lại tƣ duy và kết quả của nó có ảnh hƣởng đến quá trình nhận thức cảm tính. Những đặc điểm trên đây cho thấy tƣ duy là sản phẩm của sự phát triển lịch sử - xã hội mang bản chất xã hội.
Các thao tác của tư duy 1. Các giai đoạn cơ bản của một quá trình tư duy Mỗi hành động tƣ duy là một quá trình giải quyết một nhiệm vụ nào đấy, nảy sinh trong quá trình nhận thức hay hoạt động thực tiễn của con ngƣời. Quá trình tƣ duy bao gồm nhiều giai đoạn từ khi cá nhân gặp phải tình huống có vấn đề và nhận thức đƣợc vấn đề cho đến khi vấn đề đó đƣợc giải quyết. Đó là các giai đoạn: Xác định vấn đề và biểu đạt vấn đề Huy động các tri thức kinh nghiệm có liên quan đến vấn đề xác định Sàng lọc các liên tƣởng và hình thành các giả thuyết Kiểm tra giả thuyết Giải quyết nhiệm vụ.
Các thao tác tư duy Tính giai đoạn của tƣ duy mới chỉ phản ánh mặt bên ngoài, cấu trúc bên ngoài của quá trình tƣ duy. Còn nội dung bên trong nó diễn ra các thao tác trí tuệ, các thao tác tƣ duy là những quy luật bên trong của tƣ duy. Có các thao tác sau đây + Phân tích – tổng hợp Phân tích là bằng sự phân chia bằng trí óc đối tƣợng nhận thức thành - 15 - z các bộ phận, các thành phần, thuộc tính, quan hệ khác nhau để nhận thức nó sâu sắc hơn. Tổng hợp là sự hợp nhất bằng trí óc các bộ phận , các thành phần, thuộc tính, quan hệ khác nhau của đối tƣợng nhận thức thành một chỉnh thể.
Phân tích và tổng hợp thống nhất với nhau: Sự phân tích đƣợc tiến hành theo phƣơng hƣớng của sự tổng hợp. Còn tổng hợp đƣợc thực hiện trên kết quả của sự phân tích. + So sánh: là sự xác định bằng trí óc giống hay khác nhau, sự đồng nhất hay không đồng nhất, sự bằng nhau hay không bằng nhau giữa các sự vật hiện tƣợng. + Trừu tƣợng hóa – khái quát hóa Trừu tƣợng hóa là sự gạt bỏ bằng trí óc những mặt, những thuộc tính những liên hệ và quan hệ thứ yếu, không cần mà chỉ giữ lại những yếu tố nào cần thiết để tƣ duy thôi.
Khái quát hóa: là sự hợp nhất nhiều đối tƣợng khác nhau nhƣng có chung những thuộc tính, liên hệ, quan hệ… nhất định thành một nhóm, một loại. Khái quát hóa bao giờ cũng mang lại một cái chung. Trừu tƣợng hóa và khái quát hóa có quan hệ qua lại với nhau. Khái quát hóa chính là sự tổng hợp ở mức độ cao.
Các thao tác tư duy Toán học a. Thao tác phân tích Phân tích là thao tác tƣ duy nhằm tách đối tƣợng Toán học thành những bộ phận, những dấu hiệu và thuộc tính, những liên hệ và quan hệ giữa chúng theo một hƣớng nhất định, nhờ đó mà nhận thức đầy đủ, sâu sắc và trọn vẹn về đối tƣợng Toán học ấy. Thao tác tổng hợp Tổng hợp là một thao tác tƣ duy trong đó chủ thể tƣ duy dùng trí óc hợp nhất những bộ phận (thuộc tính, quan hệ) của đối tƣợng Toán học đã đƣợc - 16 - z phân tích, thành một chỉnh thể nhằm nhận thức đối tƣợng Toán học bao quát hơn, đầy đủ hơn. Khi tổng hợp thì những yếu tố đã đƣợc tách bạch trong quá trình phân tích của đối tƣợng Toán học đƣợc kết hợp lại với nhau, đƣợc đƣa vào một quan hệ thống nhất.
Thao tác so sánh So sánh là thao tác tƣ duy nhằm xác định sự giống nhau hoặc khác nhau, sự đồng nhất hoặc không đồng nhất, sự bằng nhau hoặc không bằng nhau… giữa các đối tƣợng toán học hay giữa các thuộc tính, các quan hệ, các bộ phận của đối tƣợng toán học. Thao tác trừu tượng hóa Trừu tƣợng hóa là thao tác tƣ duy mà chủ thể chỉ tập trung chú ý vào những tính chất cơ bản nhất, đặc trƣng nhất, thuộc và chỉ thuộc lớp đang nghiên cứu. Tách chúng ra khỏi những tính chất không cơ bản và không quan tâm đến những tính chất không cơ bản đó. Thao tác khái quát hóa Khái quát hóa là thao tác tƣ duy nhằm bao quát các đối tƣợng Toán học khác nhau thành một nhóm hoặc một lớp trên cơ sở chúng có một thuộc tính chung, bản chất, những mối quan hệ có tính quy luật sau khi gạt bỏ những thành phần khác.
Kết quả của khái quát hóa cho ra một đặc tính chung của hàng loạt đối tƣợng Toán học cùng loại. Trong mỗi hoạt động nhận thức của SV khi học tập Toán, các thao tác tƣ duy đƣợc tiến hành một cách đan xen nhau, thông qua đó, thúc đẩy sự phát triển của chúng, giúp SV đạt đƣợc mục đích học tập một cách chắc chắn. Tuy nhiên, với một nội dung học tập cụ thể, có thể một thao tác tƣ duy nào đó nổi lên, có tính chất chủ đạo hoặc đặt phƣơng hƣớng. Các loại hình tư duy - 17 - z Nhƣ vậy, trong quá trình học thì cái mà học sinh lĩnh hội đƣợc chính là cách tƣ duy, cách tƣ duy sẽ còn lại trong mỗi ngƣời học trong khi kiến thức có thể bị quên đi trong trí nhớ.
Qua quá trình tƣ duy con ngƣời ý thức nhanh chóng, chính xác đối tƣợng cần lĩnh hội, mục đích cần đạt đƣợc và con đƣờng tối ƣu đạt đƣợc mục đích đó.