Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1. Một số vấn đề chung về tự học 1. Vai trò của tự học và một số nghiên cứu về tự học 1. Vai trò của tự học Qua tham khảo một số tài liệu như [40]; [44]; [4]; [7]; [29]; [34]; ., chúng tôi thấy: + Tự học là nội lực, là yếu tố quyết định sự phát triển của bản thân người học: Tự học có thể xem là quá trình người học tự lực chiếm lĩnh tri thức và biến nó thành tài sản của riêng mình, còn dạy học dù là vô cùng quan trọng nhưng vẫn chỉ là ngoại lực, hỗ trợ cho người học phát triển.
Cho dù giáo viên có dạy tốt đến mấy nhưng người học chưa nhận thức, chứ tự ý thức phải học thì chưa thể nói đến dạy học hiệu quả. Do đó, sức tự học của trò mới là nội lực, nhân tố quyết định sự phát triển bản thân người học. + Tự học đóng vai trò là một công cụ hữu hiệu trong việc khắc phục sự mâu thuẫn về sự vô hạn của học vấn với giới hạn của học đường: Ngày nay với tốc độ phát triển nhanh chóng khoa học và kĩ thuật kéo theo khối lượng tri thức ngày càng tăng. Để theo kịp bước tiến của xã hội thì cần phải học rất nhiều, nhưng nhà trường không thể dạy tất cả, môi trường học đường chỉ là nơi cung cấp cho người học những tri thức căn bản, tối thiểu cần thiết trong một khoảng thời gian nhất định.
Người học biết cách tự học mới có thể tiếp cận, cập nhật tri thức, trong bối cảnh khoa học kĩ thuật phát triển nhanh chóng ngày nay. + Tự học khơi dậy được NL tiềm ẩn của người học: Nếu rèn luyện cho người học kĩ năng, phương pháp, thói quen tự học, biết ứng dụng những điều đã học vào những tình huống mới, biết tự lực phát hiện và giải quyết những vấn đề gặp phải thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi con người. Trong dạy học ở trường phổ thông, làm được như vậy thì kết quả học tập sẽ được nhân lên gấp bội, người học có thể tiếp tục tự học khi vào đời. + Tự học hình thành nhân cách con người với những đức tính quý báu: như tính chủ động, độc lập, nhẫn nại, kiên trì, bền bỉ, lòng ham hiểu biết,.
5 + Tự học là một phương thức đào tạo góp phần bổ sung kiến thức cho con người: Biết tự học là thường xuyên tích lũy được tri thức, không bị lạc hậu mà tri thức nhân loại vô cùng rộng lớn, biển học không bến bờ, tự học là nhu cầu chính của thời đại. + Tự học là cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học: đây là cơ sở để người học tiếp cận với thói quen, cách thức và khả năng nghiên cứu khoa học. + Tự học phát huy nội lực và NL hành động của con người: giúp người học sử dụng được tối đa hóa những kiến thức sẵn có của mình để làm cơ sở khám phá và chiếm lĩnh những tri thức mới, từ đó hình thành kỹ năng vận dụng và óc sáng tạo của người học. Tìm hiểu về tự học qua một số thời kì ở nước ta Theo tiến trình lịch sử, giáo dục Việt Nam có những chuyển biến xuyên suốt qua các thời kỳ.
Ở từng giai đoạn lịch sử khác nhau thì quan niệm, cách thức và kết quả tự học cũng có những thay đổi nhất định. a) Trước Cách Mạng tháng Tám: - Từ thời phong kiến, do ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, điều kiện kinh tế, chính trị xã hội và văn hóa giáo dục nước ta đều bị ảnh hưởng. Việc tự học được thực hiện một cách máy móc, kĩ năng chủ yếu là ghi nhớ, học thuộc lòng, thầy dạy gì học đó, thầy là trung tâm và luôn đúng. - Thời Pháp thuộc, do chế độ áp bức bóc lột tàn bạo với những thủ đoạn cai trị thâm độc, nền giáo dục nước ta bị kìm nén, trì trệ.
Với chính sách "ngu dân" thì giáo dục Việt Nam hầu như rất kém phát triển, chủ yếu dành cho một số ít đối tượng thuộc tầng lớp trên. Vì vậy, vào thời kỳ trước Cách Mạng tháng Tám, hầu hết dân số Việt Nam mù chữ. Do đó người dân chủ yếu buộc phải tự học một cách tự phát, mày mò, học lẫn nhau khi họ đối mặt với những công việc hàng ngày trong cuộc sống lao động. mà vấn đề tự học chưa được bàn đến như một lý luận giáo dục trong các nhà trường.
b) Sau Cách Mạng tháng Tám thành công: Đảng Cộng sản Việt Nam và các lãnh tụ Việt Nam rất quan tâm đến giáo dục, trong đó có vấn đề tự học: 6 - Chủ tịch Hồ Chí Minh bằng chính cuộc đời của mình là tấm gương sáng ngời về tinh thần tự học, rèn luyện, trong lao động, sáng tạo … Người chỉ rõ vai trò của học tập, tự rèn luyện đối với mỗi người cách mạng với câu nói “Còn sống thì còn phải học” rất giản dị mà thiết thực ([25, tr. Với toàn dân, Bác luôn động viên: “Phải tự nguyện, tự giác xem công việc học tập là nhiệm vụ của người cách mạng, phải cố gắng hoàn thành cho được, do đó phải tích cực, tự động hoàn thành kế hoạch học tập” ([25, tr. Tư tưởng Hồ Chí Minh được Đảng ta vận dụng và là quan điểm chỉ đạo đổi mới giáo dục: Trong nghị quyết đại hội Đảng lần thứ VIII (tháng 6/1996); Nghị quyết TW II khoá VIII (tháng 12/1996) ghi rõ: “Tập trung sức, nâng cao chất lượng dạy và học, tạo ra NL tự học, sáng tạo của sinh viên, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, phát triển mạnh phong trào tự học - tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân. Quan điểm đó tiếp tục được Đảng ta chú trọng trong Nghị quyết số 29/NQ-TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo: “Đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học.
Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phương tiện hiện đại vào quá trình dạy - học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự nghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học, phát triển mạnh mẽ phong trào tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên .Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển NL .41] - Cố thủ tướng Phạm Văn Đồng (1906 - 2000) luôn coi trọng phương pháp tự học, tự nghiên cứu. Ông luôn mong muốn: “Trong nhà trường, điều chủ yếu không phải là nhồi nhét cho học trò một mớ kiến thức hỗn độn, tuy rằng kiến thức là cần thiết. Điều chủ ý là giáo dục cho học trò phương pháp suy nghĩ, phương pháp suy luận, phương pháp diễn tả, rồi đến phương pháp nghiên cứu, phương pháp học tập, phương pháp giải quyết vấn đề ”. (theo [20]) 7 Về mặt quản lý Nhà nước, trong Điều 40 của Luật Giáo dục nước CHXHCN Việt Nam (công bố ngày 27/6/2005) ghi rõ: “Phương pháp đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng ý thức tự giác trong học tập, NL tự học, tự nghiên cứu, phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kĩ năng thực hành, tạo điều kiện cho người học tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng”.2 của “Chiến lược phát triển giáo dục 2001 - 2010” (Ban hành kèm theo Quyết định số 201/2001/QĐ-TTg ngày 28 tháng 12 năm 2001 của Thủ tướng Chính phủ) ghi rõ: “Đổi mới và hiện đại hoá phương pháp giáo dục.
Chuyển từ việc truyền đạt tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sang hướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy cho người học phương pháp tự học, tự thu nhận thông tin một cách hệ thống và có tư duy phân tích, tổng hợp; phát triển NL của mỗi cá nhân; tăng cường tính chủ động, tính tự chủ của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập, .” Qua tìm hiểu một số công trình nghiên cứu cho thấy vấn đề tự học và dạy tự học được triển khai theo những mục đích và cách thức tiếp cận khác nhau. Cụ thể: - Về bản chất của quá trình DH: Giáo sư Nguyễn Cảnh Toàn (một tấm gương sáng về tự học ở nước ta: Từ một giáo viên trung học, bằng con đường tự học, tự nghiên cứu, ông đã trở thành một nhà toán học, nhà giáo dục nổi tiếng ở Việt Nam và trên thế giới). Giáo sư đã nghiên cứu quá trình DH và và vạch rõ bản chất “Cốt lõi của học là tự học. Hễ có học là có tự học vì không ai có thể học hộ người khác được”.
Nhiệm vụ của chúng ta là “biến quá trình dạy học thành quá trình tự học” [39]. - Về tính tất yếu của tự học: Tác giả Nguyễn Văn Đạo đã khẳng định: “Tự học là việc tất yếu đối với mỗi con người và là công việc suốt cả cuộc đời. Những điều kiện cơ bản, cần thiết cho việc tự học của một người có thể tóm tắt như sau: Thứ nhất, tự học phải là công việc tự giác của mỗi người. Khi tự học đã trở thành việc tự giác thì mọi khó khăn dành cho việc tự học đều có thể vượt qua, như: thiếu thời gian, thiếu tài liệu sách vở, thiếu các điều kiện khác.
Thứ hai, để tự học có kết quả cần có nền kiến thức cơ bản vững và thông thạo vài ngoại ngữ. Thứ ba, cần có phương pháp tự học tốt” ([21, tr. 8 Cũng như vậy đối với, tác giả Nguyễn Duy Cần ([4]) đã viết về sự cần thiết, phương pháp tự học theo cách tiếp cận sắm vai người tự học để vận động mọi người thường xuyên tự học. Tác giả Nguyễn Hiến Lê ([27]) thì bàn về tự học như là một nhu cầu tất yếu của thời đại, một vấn đề cần thiết đối với mọi người trong cuộc sống.
- Về ưu thế và vai trò của tự học: Tác giả Nguyễn Kỳ khẳng định: “Tự học, tự đào tạo - con đường phát triển tối ưu. Con đường phát triển tối ưu là con đường 3 nhất: chất lượng cao nhất, quy mô lớn nhất, hệ thống hợp nhất ”. Ông cho rằng: “Chiếc gậy thần” để làm cho giáo dục Việt Nam tăng tốc từ “ba thấp” đến “ba nhất” là truyền thống tự học, sáng tạo của dân tộc, là khoa học tự học”. Ông khẳng định tự học là nội lực của giáo dục: “.