Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Tổng quan vấn đề cần nghiên cứu Trong lịch sử phát triển giáo dục của nhân loại vấn đề tự học được các nhà nghiên cứu giáo dục trên thế giới nghiên cứu từ rất sớm, tuy nó được thể hiện dưới nhiều góc độ khác nhau nhưng đều có đặc điểm chung là dạy học luôncoi trọng người học, dạy học lấy người học làm trung tâm. Qua từng thời kì phát triển của lịch sử, ý tưởng này đã phát triển và trở thành quan niệm dạy học tích cực như ngày nay. Trong các năm gần đây có rất nhiều các luận văn, luận án nghiên cứu về vấn đề tự học như: “Xây dựng tài liệu tự học chuyên đề chứng minh Bất đẳng thức ”, Luận văn thạc sĩ khoa học giáo dục của tác giả Nguyễn Viết Hòa - 2007 tập trung vào việc xây dựng tài liệu tự học cho chuyên đề “Chứng minh bất đẳng thức”, đã rất chú ý tới việc nêu lên cách suy nghĩ để đi đến lời giải cho mỗi bài toán….“ Dạy học phần vectơ của sách giáo khoa hinh học 10 nâng cao theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh”, Luận văn thạc sỹ khoa học Giáo dục của tác giả Phạm Quang Anh - 2008 đã nghiên cứu việc dạy học theo hướng tăng cường hoạt động tự học của học sinh thông qua việc vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực ở nhà trường trong đó nổi bật là biện pháp thiết kế hệ thống câu hỏi và bài tập cho việc tự học ở trên lớp và ở nhà. “Một số giải pháp nhằm phát trển năng lực tự học Toán cho học sinh THPT (Qua viêc dạy học chủ đề quan hệ song song và quan hệ vuông góc ở hình học lớp 11)”, Luận án tiến sĩ Giáo dục học của Phạm Đình Khương - 2005.
“Phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 thông qua dạy học chủ đề số phức”, Luận văn thạc sỹ khoa học Giáo dục của Trần Thị Thanh Thủy -2015, các công trình nghiên cứu này đã tập trung vào nghiên cứu việc phát triển năng lực tự học toán của học sinh nhờ vận dụng phương pháp dạy học tự học ngay trên lớp. “Phát triển kĩ năng tự học Toán cho sinh viên các trường đại học đào tạo giáo 5 c viên tiểu học”, Luận án tiến sĩ Giáo dục học của tác giả Đỗ Thị Phương Thảo - 2013, luận án đã góp thêm vào lý luận phương pháp dạy học đại hoc và cơ sở thực tiễn về sự cần thiết phát triển kĩ năng tự học toán cho sinh viên đại học sư phạm tiểu học. Làm sáng tỏ những khác biệt biểu hiện trong kĩ năng tự học toán của sinh viên đại học sư phạm tiểu học; khác biệt giữa tự học Toán thực chất với tự học toán hình thức; khác biệt giữa dạy học có chú trọng phát triển kĩ năng tự học Toán và dạy học không chú trọng phát triển kĩ năng tự học Toán. Xây dựng bộ tiêu chí đánh giá kĩ năng tự học Toán của sinh viên đại học sư phạm tiểu học.
Đề xuất 5 biện pháp sư phạm nhằm phát triển kĩ năng tự học Toán của sinh viên đại học sư phạm tiểu học. Ngày nay, khi công nghệ thông tin phát triển mạnh mẽ, người học có thể tự học, tham khảo tài liệu thông qua các trang mạng trực tuyến ,tự nghiên cứu các bài giảng, bài tập, làm các bài kiểm tra đánh giá từ đó hình thành kĩ năng sử dụng internet, tích lũy kinh nghiệm nâng cao chất lượng học tập.2 Một số quan niệm về tự học 1.1 Khái niệm tự học Tuy được quan tâm từ rất lâu và rất nhiều trên thế giới nhưng “tự học” là một thuật ngữ có nhiều cách định nghĩa khác nhau và đôi khi chưa hoàn toàn thống nhất giữa các nhà nghiên cứu. Một số nhà nghiên cứu đã định nghĩa về tự học như sau: - Theo GS – TS Nguyễn Cảnh Toàn [42] : “Tự học là tự mình động não, suy nghĩ sử dụng năng lực trí tuệ (quan sát, so sánh, phân tích, tổng hợp …) và có khi cả cơ bắp (khi phải sử dụng công cụ) cùng các phẩm chất của mình, rồi cả động cơ, tình cảm cá nhân, sinh quan, thế giới quan (như tính trung thực, khách quan, có chí tiến thủ, không ngại khó ngại khổ, kiên trì nhẫn nại, lòng say mê khoa học, ý muốn thi đỗ, biến khó khăn thành thuận lợi…) để chiếm lĩnh một lĩnh vực hiểu biết nào đó của nhân loại, biến lĩnh vực đó thành của mình” 6 c - Tự học là hoạt động độc lập chiếm lĩnh kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo…và kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người nói chung và của chính bản thân người học [1]. - Nguyễn Kì [22] cho rằng: “Tự học là năng lực của người học, nhân tố quyết định sự phát triển của người học: có tự học tố mới phát triển được tư duy độc lập, từ chỗ có tư duy độc lập mới có tư duy phê phán, có khả năng phát hiện vấn đề và nhờ đó mới có tư duy sáng tạo.
Người học giỏi là người biết tự học, có năng lực tự học và có thói quen học tập suốt đời. Người dạy giỏi là người biết cách làm cho học sinh tự học tốt nhất”. - Theo Đặng Thành Hưng [19, tr.21 – 24]: “Tự học là học với sự tự giác, tích cực và độc lập cao, trong học bao giờ cũng có tự học. Hoạt động tự học của học sinh là quá trình chủ động, tự giác của người học nhằm nắm bắt các tri thức và các kĩ năng kĩ xảo.
Nếu cá nhân nào đó thực sự trở thành chủ thể học, thì đồng thời người ấy cũng là người tự học. Khác với các loại hoạt động khác, hoạt động tự học lấy chủ thể làm đối tượng hoạt động. Ở đây diễn ra quá trình con người tác động vào con người nhằm làm thay đổi chính bản thân mình. Hoạt động tự học diễn ra theo cơ chế “hướng nội” nghĩa là tác động và làm biến đổi các quá trình tâm lý, các cấu trúc nhận thức đã đạt được… của chính bản thân chủ thể.
Đồng thời hoạt động tự học còn chịu sự chi phối của các quy luật khách quan khác của quá trình đó”. - Phan Trọng Luận [27, tr.8 -9] cho rằng: “Học là công việc của cá nhân. Học là công việc của bản thân người học”. - Theo chương trình Giáo dục phổ thông, chương trình giáo dục tổng thể (Ban hành kèm thông tư số 32/2018/TT – BGĐT ngày 26/12/2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) tự học, tự hoàn thiện: - Đối với cấp tiểu học: “Có ý thức tổng kết và trình bày được những điều đã học.
Nhận ra và sửa chữa sai sót trong bài kiểm tra qua lời nhận xét của thầy cô. Có ý thức học hỏi thầy cô, bạn bè và người khác để củng cố và mở rộng hiểu biết. Có ý thức học tập và làm theo những gương người tốt ”. 7 c - Đối với cấp trung học cơ sở: “Tự đặt được mục tiêu học tập để lỗ lực phấn đấu học tập.
Biết lập và thực hiện kế hoạch học tập; lựa chọn được các nguồn tài liệu phù hợp; lưu giữ thông tin có chọn lọc bằng ghi tóm tắt, bằng bản đồ khái niệm, bảng, các từ khóa; ghi chú bài giảng của giáo viên theo ý chính. Nhận ra và điều chỉnh được những sai sót của bản thận khi được giáo viên, ban bè góp ý; chủ động tìm kiếm sự hỗ trợ của người khác khi gặp khó khăn trong học tập. Biết rèn luyện, khắc phục những hạn chế của bản thân hướng tới các giá trị xã hội”. - Đối với cấp trung học phổ thông : “Xác định được nhiệm vụ học tập dựa trên kết quả đã đạt được, biết đặt mục tiêu học tập chi tiết, cụ thể, khắc phục những hạn chế.
Đánh giá và điều chỉnh được kế hoạch học tập, hình thành cách học riêng của bản thân; tìm kiếm, đánh giá và lựa chọn được nguồn tài liệu phù hợp với mục đích, nhiệm vụ học tập khác nhau; ghi chép những thông tin bằng các hình thức phù hợp; thuận lợi cho việc ghi nhớ, sử dụng, bổ sung khi cần thiết. Tự nhận ra và điều chỉnh được những sai sót, hạn chế của bản thân trong quá trình học tập; suy ngẫm cách học của mình, rút kinh nghiệm để có thể vận dụng vào các tình huống khác; biết tự điều chỉnh cách học. Biết thường xuyên tu dưỡng theo mục tiêu phấn đấu cá nhân và các giá trị công dân”. - Theo định nghĩa từ điển: “Tự học là quá trình chủ thể nhận thức tự mình hoạt động lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng thực hành, không có sự hướng dẫn trực tiếp của giáo viên và sự quản lý trực tiếp của cơ sở đào tạo”.
Ngoài ra còn rất nhiều các định nghĩa tự học của các nhà nghiên cứu khác như Nguyễn Thị Tính, Nguyễn Văn Hộ…tuy có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng nhìn chung đều đề cao ý thức tự học của bản thân người học. Tóm lại: Tự học là học ở trình độ độc lập, tự giác, chủ động. Bản chất của tự học là quá trình người học cá nhân hóa việc học nhằm thỏa mãn các nhu cầu học tập, tự giác tiến hành các hoạt động học tập. 8 c Việc tự học nói chung có ưu điểm và nhược điểm như sau: + Ưu điểm: - Những kiến thức mà tự mình khám phá ra được sẽ giúp người học ham học hơn, bên cạnh đó cũng giúp người học nắm chắc bởi những gì mà họ tìm ra được thường sẽ hiểu sâu và nhớ lâu.
- Người học có thể học mọi lúc, ở mọi nơi và học trong suốt cuộc đời vì kiến thức của nhân loại là vô tận. - Tiết kiệm thời gian tiền bạc, người học có thể học theo khả năng và sở thích riêng. - Giúp người học làm quen với hoạt động tự nghiên cứu, hình thành và phát triển các đức tính: kiên trì, tự giác, say mê khoa học là nền móng cho sự hình thành các nhà nghiên cứu, nhà khoa học. + Nhược điểm: - Người học khó xác định được trọng tâm của bài.
- Thiếu sự thi đua, trao đổi, thảo luận giữa những người học với nhau.