phần mở đầu, nội dung và kết luận. Trong đó phần nội dung đƣợc chia làm 2 chƣơng: - Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về quyền xác định lại giới tính - Chƣơng 2: Quy định pháp luật Việt Nam về quyền xác định lại giới tính và một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật 5 PHẦN NỘI DUNG CHƢƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN XÁC ĐỊNH LẠI GIỚI TÍNH 1. Khái niệm quyền xác định lại giới tính 1.
Khái niệm giới tính và xác định lại giới tính - Khái niệm “giới tính”: Giới tính thƣờng đƣợc hiểu là: Sự khác biệt về phƣơng diện sinh lý giữa nam giới và nữ giới. Giới tính là những yếu tố tự nhiên trƣớc lúc con ngƣời sinh ra đã có và không thể thay thế đƣợc. Thời xa xƣa, khi chƣa có sự xuất hiện của nhà nƣớc, kinh tế xã hội chƣa thực sự phát triển, những ngành khoa học chƣa ra đời thì những hiện tƣợng về tự nhiên nhƣ mƣa, gió, sấm chớp…đƣợc con ngƣời lý giải theo thuyết duy tâm, nghĩa là mọi hiện tƣợng tự nhiên và xã hội xảy ra là do sự sắp đặt của giới thần thánh. Mọi biến đổi của giới tự nhiên và xã hội là do thần thánh, chúa trời hoặc một sức mạnh siêu nhiên nào đó đƣa đến.
Đến giai đoạn tiếp theo, nhà bác học Darwin ngƣời đƣợc xem là ông tổ của tiến hoá, đã chứng minh đƣợc nguồn gốc của loài ngƣời và đƣa ra những nhận xét đầu tiên về giới tính, sự khác biệt giữa nam và nữ. Ông cho rằng sở dĩ có sự phân biệt giữa giống đực và giống cái là do xuất phát từ yêu cầu duy trì nòi giống. Do nhu cầu sinh sản của muôn loài không chỉ ở con ngƣời hay các động vật khác mà ngay cả các sinh vật nhỏ bé nhƣ cỏ cây, hoa lá…cũng đã phân biệt giới tính để kết hợp với nhau sản sinh ra thế hệ sau, duy trì nòi giống và là điều kiện cho sự tiến hóa của mọi sinh vật. Việc khám phá này của Darwin đã khẳng định rõ ràng việc phân tách nam nữ giữa đực và cái thông thƣờng ở mọi sinh vật tạo nên nam nhi hay nữ nhi ở loài ngƣời xuất phát bởi những đòi hỏi khách quan đối với việc tồn tại, phát triển của con ngƣời chứ không phải bởi sức mạnh thần thánh, hay là bởi quyền năng nào đó của thần linh.
Kế thừa những tƣ tƣởng tiến bộ của Darwin, Chủ nghĩa Mác- Lê Nin khi nghiên cứu về bản chất của con ngƣời cũng đƣa ra đƣợc những kết luận rất khoa học, khách quan và toàn diện: “Con người là thực thể thống nhất giữa cái tự nhiên và xã hội, luôn mang bản chất xã hội – lịch sử” [14, tr11]. Vì vậy, con ngƣời phải là sự tổng 6 hòa của cái tự nhiên và xã hội, mặc dù cái xã hội ra đời trên tiền đề cái tự nhiên nhƣng khi ra đời thì cái xã hội lại chi phối, tác động ngƣợc lại cái tự nhiên, làm cho cái tự nhiên không chỉ thuần túy nhƣ nguồn gốc ban đầu mà mang thêm một thuộc tính mới đó là tính xã hội. Giới tính của con ngƣời cũng không nằm ngoài định luật ấy, bởi vì theo nguyên gốc từ khi sinh ra thì giới tính của con ngƣời chỉ đơn thuần là hiện tƣợng tự nhiên. Song vì có nhiều ảnh hƣởng của xã hội, mà mỗi một em bé có giới tính khác nhau sẽ có những đặc điểm về mặt xã hội khác nhau.
Hiện nay, giới tính đƣợc tiếp cận theo nhiều góc độ. Theo nghĩa chung nhất, Từ điển Tiếng Việt 2006 do Hoàng Phê chủ biên đƣa ra định nghĩa: “Giới tính là những đặc điểm chung phân biệt nam với nữ, giống đực với giống cái” [16]. Dƣới góc độ pháp lý, theo khoản 2 Điều 5 Luật Bình đẳng giới 2006,“giới tính chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ” [3]. Nhƣ vậy, các yếu tố xác định giới tính tại đây là căn cứ theo các yếu tố tác động trên phƣơng diện sinh học của cơ thể mà không phải căn cứ trên các yếu tố tâm lý xã hội.
Xác định giới tính đƣợc kết hợp qua các phƣơng diện sinh học và pháp lý nhƣ sau: + Giai đoạn 1: Giai đoạn hình thành cơ quan sinh dục. Ở giai đoạn này có sự xuất hiện của các cặp nhiễm sắc thể giới tính XX hoặc XY. + Giai đoạn 2: Giai đoạn hình thành cơ quan sinh dục bên ngoài. + Giai đoạn 3: Giai đoạn đăng ký giới tính (giới tính pháp lý) thực hiện qua hành vi đăng ký hộ tịch, xác định giới tính về phƣơng diện pháp lý.
+ Giai đoạn 4: Giai đoạn định hƣớng giới tính. Một ngƣời trong giai đoạn này, một mặt bộ phận sinh dục phát triển hoàn chỉnh một mặt có hành vi hƣớng nam hoặc hƣớng nữ. Nếu một trong các bƣớc trên xung đột với những bƣớc còn lại sẽ gây ra hiện tƣợng giới tính không đồng nhất Nhƣ vậy, căn cứ trên sự phân loại giới tính chứng tỏ giới tính của con ngƣời không đơn thuần chỉ là sự rõ ràng, dễ quan sát bằng thị giác, nhận biết thông qua hình thức bên ngoài mà giới tính còn bao gồm nhiều nhân tố di truyền, sinh vật học, tâm lý xã hội. Các định nghĩa nêu trên mới chỉ căn cứ vào một vài đặc điểm hình thái giới 7 tính rút ra khái niệm về giới tính.
Qua quá trình phân tích và xem xét trên các đặc điểm hình thái giới tính ta rút ra một định nghĩa chung về giới tính nhƣ sau: "Giới tính của cá nhân là tập hợp những đặc điểm, tính chất riêng chỉ ra sự khác biệt giữa nam và nữ giới". Sự khác biệt chính giữa nam giới và nữ giới là do các đặc điểm giải phẫu tâm sinh lý, từ đó tạo ra sự thay đổi rõ ràng về tâm sinh lý. Giới tính có nguồn gốc từ thiên nhiên và xã hội, mỗi ngƣời sẽ là những chủ thể chủ động trong việc nhận thức những đặc điểm, biểu hiện về giới tính của mình. - Khái niệm “xác định lại giới tính”: Nhƣ trên đã phân tích, giới tính là tổng hợp của yếu tố tự nhiên và xã hội.
Vì vậy, có nhiều trƣờng hợp để phân biệt giới tính, ngƣời ta phải xem xét yếu tố tự nhiên (có ý nghĩa là dựa trên hình dáng bên ngoài của cơ quan sinh dục) nhằm phân biệt một ngƣời là nam giới nữ giới bởi vì nếu chỉ xem xét đến yếu tố tự nhiên sẽ có nhiều trƣờng hợp là không chính xác. Bên cạnh đó, nhiều trƣờng hợp cá nhân sinh ra có thể mang khuyết tật bẩm sinh về giới tính nên giới tính chƣa thể đƣợc phân định chính xác. Giới tính còn đƣợc định hình qua các biểu hiện tâm lý, xã hội. Từ những đặc điểm trên, có thể hiểu: "Xác định lại giới tính là quá trình tiến hành những thủ tục theo quy định của pháp luật nhằm công nhận giới tính của một ngƣời có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chƣa đƣợc định hình chính xác".
Khái niệm quyền xác định lại giới tính Kế thừa và phát huy những quy định tiến bộ từ các văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền nhân thân của con ngƣời, Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 đã bổ sung và sửa đổi các quyền nhân thân nhằm phù hợp với những nhu cầu, đòi hỏi mới của đời sống nhƣ: quyền hiến xác, hiến tặng bộ phận cơ thể ngƣời sau khi chết, quyền xác định lại giới tính,. Hiến pháp năm 2013 có quy định: Ở Việt Nam, các quyền lợi con ngƣời về chính trị, văn hoá, đạo đức, xã hội và tinh thần đƣợc bảo đảm, thể hiện bằng các quyền đã đƣợc quy định tại Hiến pháp và pháp luật (Điều 14). Pháp luật Việt Nam rất tôn trọng, bảo vệ quyền lợi con ngƣời, do đó giá trị đạo đức của con ngƣời ngày một nâng cao, điều này đƣợc thể hiện thông qua các quy định của nhiều hệ thống 8 pháp luật khác nhau nhƣ: Luật dân sự, luật lao động, luật bình đẳng giới, luật hôn nhân và gia đình. Trong đó, Bộ Luật Dân sự đƣợc coi là Bộ Luật đầu tiên quy định tƣơng đối cụ thể, chi tiết và rõ ràng quyền nhân thân của từng cá nhân, về mối quan hệ các cá nhân với nhau trong xã hội.
Quyền nhân thân đƣợc quy định trong Mục 2, Chƣơng III đoạn thứ I về: Những quy định cơ bản của BLDS bao gồm một số lƣợng lớn các quy định cụ thể đối với cá nhân. Trong đó, Quyền xác định lại giới tính là một quyền mới rất quan trọng của cá nhân lần đầu tiên đƣợc quy định Điều 36 BLDS năm 2005 và tiếp tục đƣợc quy định trong BLDS năm 2015, tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho quá trình thể chế hoá các quy định trên trong các văn bản pháp luật chuyên ngành. Sau 10 năm triển khai thực hiện, nhằm sửa đổi những quy định không hợp lý, Điều 36 BLDS năm 2015 hoàn thiện thêm quy định đối với quyền xác định lại giới tính. Quyền xác định lại giới tính sẽ đƣợc đảm bảo khi cá nhân gặp khó khăn trong xác định giới tính, phải nhờ y tế can thiệp và cần một sự thừa nhận mang tính pháp lý đối với giới tính mới của mình.
Đây là một quy định mang tính “mở” nhằm giúp những ngƣời gặp phải hoàn cảnh nêu trên đƣợc xác định giới tính thực sự của mình. Quy định này mang ý nghĩa nhân văn, giúp cho họ hòa nhập với cuộc sống và tham gia quan hệ dân sự một cách bình đẳng, đƣợc pháp luật công nhận và bảo vệ. Những chủ thể khác không có quyền cản trở hoặc xâm phạm đến quyền xác định lại giới tính của cá nhân. Và để thực hiện quyền xác định lại giới tính thì phải thuộc các trƣờng hợp theo quy định của pháp luật thì mới đƣợc thực hiện, và khi xác định lại sẽ ảnh hƣởng đến các vấn đề về hộ tịch, các quan hệ pháp luật dân sự mà cá nhân này tham gia.
Từ những phân tích trên, “quyền xác định lại giới tính” đƣợc hiểu là: Khả năng một cá nhân có vấn đề khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chƣa đƣợc định hình chính xác sẽ đƣợc quyền yêu cầu cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền tiến hành những thủ tục theo quy định của pháp luật để xác định lại đúng giới tính thật của mình và đƣợc Nhà nƣớc công nhận cũng nhƣ bảo vệ. Cơ sở của quyền xác định lại giới tính 1. Cơ sở khoa học Giới tính là tổng hoà của yếu tố tự nhiên và xã hội. Yếu tố tự nhiên đƣợc coi là tiền đề, cơ sở và yếu tố tâm lý, xã hội chính là hệ quả của giới tính tự nhiên.