Chương 1: Một số van đề lý luận và quy định của Bộ luật tổ tung hình sự năm 2015 vé quyền vả nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thấm vu án hình sự Chương 2: Thực tiễn thực hiện quyển và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự va giải pháp nâng cao hiệu quả. MỘT SỐ VAN DE LÝ LUẬN VÀ QUY ĐỊNH CUA BỘ LUẬT 16 TUNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VE QUYEN VÀ NGHĨA VỤ CỦA BỊ CÁO TRONG GIAI ĐOẠN XÉT XỬ SƠ THẢM VỤ ÁN HÌNH SU 11. Một số vấn đề lý luận về quyền và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử sơ thấm vụ án hình sự 111 Kháin lệm quyên và nghĩa vụ của bị cáo trong giai đoạn xét xử so” thâm vụ án hinh sự. LLLL Khái niêm bị cáo ‘Dinh nghĩa bị cao được đưa ra dau tiên trong Ban hướng dẫn về trình tự tổ tụng sơ thẩm về hình sự kèm theo Thông tư số 16/TANDTC ngày 27/9/1974 của Téa án nhân dân tối cao, theo đó “BI cáo la người bt truy củ trách nhiệm hành sự trước Tòa ân nhân dâm.
Trong giai doan xét xử TAND chỉ được đưa một người ra xét xứvới tư cách là bi cáo nễu VKSND đã truy tổ người đó trước TAND néu Viên Riễm sát không tray tô thi TAND không được xét xử một người với tự cách là bị cáo trừ những người mà TAND xét xử về việc hình phạt nhe Tiêp đó, BLTTHS năm 1998 ra đời thì khái niêm bị cáo được quy định tại Điều 344 và sau nay, khái niệm bị cáo tiếp tục được sửa đổi, ghi nhận theo hướng diễn. đạt ngắn gọn hơn tại Điểu 50 BLTTHS năm 2003, theo đó. “Bi cáo là người dat bị Tòa án quyết đình đưa ra xét xử”. Khi BLTTHS năm 2015 ban hành, cùng với sự thay đổi trong quy định vẻ chủ thể của tội phạm trong BLHS năm 2015, khái niệm bi cáo hiện nay cũng có sự thay đổi: Bị cáo 1a người hoặc pháp nhân đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử.
Lan đâu tiên BLTTHS năm 2015 ghi nhận bị cáo là người hoặc pháp nhân. Dưới góc đồ luất tổ tung hình sự, khái niệm bi cáo được hiểu là cả nhân hoặc pháp nhân bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử Nov vậy, kể tử thời điểm Thâm phán được phân công chủ toa phiên tòa ra quyết định đưa vụ án ra xét xử thì bị can trở thành bị cáo vả tư cách nảy tổn tại suốt giai đoạn xét xử sơ thẩm, phúc thẩm va chỉ cham dứt khi bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật. Bộ luật Hình sự va Bộ luật Tổ tụng hình sự năm 2015 được ban hành là một bước phát triển mang tính đột phá trong lịch sử lập pháp của nước ta, làm thay đỗi nhân thức truyền thống về tội pham và hình phat. Nour vay khi người hoặc pháp nhân đã bi Toa án quyết định đưa ra xét xử thì họ trở thành bị cáo trong vụ án hình sự.
Khải niệm bi cáo không đồng ngiĩa với khái niệm chủ thể của tối phạm hoặc người có tôi ‘Tw khái niệm trên có thé thầy bi cáo trong tổ tụng hình sự Việt Nam có các. đặc điểm sau: Thứ nhất, cũng gidng như bị can, bi cáo chỉ là khải niêm mang tính hình. Tên gọi bị cáo được hình thành bởi quyết định đưa vụ án ra xét zử và giai đoạn tô tung mà họ tham gia là giai đoạn tại phiên toà. Một người có thể trở thành bi cáo khi bị Toa án quyết định đưa ra xét xử và quyết định đó có thé đúng nhưng cũng có thể sai”.
Như vậy, tư cách bị cáo xuất hiện khi Thẩm phán được phân. công chủ toa phiên toa ra quyết định đưa vụ án ra xét at. Vẻ bản chất bị cáo vẫn được coi là người chưa có tôi cho đến khi có ban án kết tội của Toa an để có hiệu lực pháp luật. Thú hai, bị cáo có thé là cả nhân hoặc pháp nhân.
Cá nhân lả bị cáo bao gồm công dân Việt Nam vả người nước ngoài va là nhóm phổ biển nhất. Bị cáo lả pháp nhân tuy không phổ biến bằng cá nhân nhưng thực tiến phòng, chống tội phạm trong tinh hình mới cho thấy chủ thể của tội pham còn có thể la các pháp nhân thương mai có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội như vẻ kinh tí trường,. Vì vay, việc truy cửu trách nhiệm đổi với pháp nhân là một vấn dé mới và phù hợp. Khái niềm quyên và ngÌa vụ của bt cáo + Khải niệm quyền của bị cáo Hiện nay, quyền của bị cáo chưa được định nghĩa rổ ràng trong văn ban pháp luật tuy nhiên đã có nhiễu nghiên cứu cũng như quan điểm khác nhau vẻ vấn dé nay.
‘ing Đạthọ Lait HA NGi(Q022), Giáo win Lute tổ ng nh ự Pet Nom, Ne. Công va nhân ds a Nội, wis Quan điễm thứ nhất cho rằng: quyền của bi cáo là những bảo đâm pháp ly được ghi nhận trong pháp luật, cho phép bị cáo sử dụng các quyển đó để thực tiện các quyển khác hay chúng lại sự vi phạm các quyên khác. Quan điểm nay đã. thể hiển được pham vi khái niêm quyén của bị cáo, tuy nhiên, chưa xác định một cách chính sắc chủ thể có quyền trong khái niệm.
Queea điểm tint hai cho rằng. Quyền của bi cáo là những điều mà người bi Toa án quyết đính dua ra xét xử theo quy đính của BLTTHS được hưỡng, được lâm, được đòi hỏi. Quan điểm nay vừa sác đính được phạm vi khái niệm quyển của bị cáo, vừa thể hiện được chủ thé có quyền trong khái niém Tuy nhiên, khái niệm chưa sắc định pháp nhân cũng là một trong những chủ thể trong khái niệm, chưa thực sự phù hợp với pháp luật tổ tụng hình sự hiện hành. Quan điểm thứ ba cho rằng: Quyên của bi cáo là những điểu mà người, pháp nhân bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử theo quy định của BLTTHS được hưởng, được lam, được đối hỗi.
Tác gid nhất tri với quan điểm thứ ba va cho rằng quyển của bi cáo là sự cu thể hoa các quyển cơ bản của con người, quyền công dân khi một người thực hiện hành vi phạm tội được quy định trong BLHS, đã bi VKS ra quyết định truy tổ và Toa án ra quyết định đưa vụ án hình sự ra xét xử: Các quy định của BLTTHS vẻ quyển của bi cáo la cơ sở pháp lý ghỉ nhân các quyền tổ tung của chủ thể nảy ma bat kỷ ai trong 2 hội cũng đều phải tôn trong Trong các quyền của bi cáo, có các quyển là chủ đông, tức là bi cáo tự mình quyết định hánh động ma không bị chỉ phổi bởi người khác, bị cáo có quyền được hưởng những việc mà cơ quan THTT, người THTT phải làm cho mình, có những quyển bi động như quyền yêu cầu cơ quan THTT, người THTT lam cho minh, tuy nhiên đổi với những yêu cầu đó của bi cáo thì cơ quan THTT, người THT có thé chấp nhận hoặc không chấp nhận. Nhu vậy, có thé thay vai trò quan trong của các cơ quan có thẩm quyển tiền hanh tô tụng, người có thẩm quyên tiền hành tổ tụng trong việc bảo đâm quyển cho bị cáo. Khi tham gia vào hoạt động tổ tung hình sự, dit với tư cách là người bi buộc tôi thì bị cáo vẫn được pháp luật bảo vệ và tôn trọng dựa trên những quyển con người, quyển công dân mà Hién pháp đã ghi nhận cho họ. Như vay, có thé rút ra khái niệm về quyên của bi cáo như sau: Quyển của.
bị cáo là những điều được pháp luật tổ tung hình sie ghi nhân mà người hoặc pháp nhân bị Toà án quyễt định đưa ra xét xứ theo quy đinh của BLTTHS được Tưởng, được làm, được đôi lối + Khải niệm nghia vụ của bị cáo Tương tự như khái niệm "quyển của bi cáo”. Hiên nay, pháp luật cũng chưa có định nghĩa vé “nghĩa vụ của bi cáo". Theo Từ điển Luật hoc: “Nghia vu là việc phải làm theo bén phâm “° Dưới góc đô pháp ly thì nghia vụ được hiểu là những bảnh vi ma một người phải thực hiện vì lợi ích của người khác. Hiện nay, trong khoa hoc pháp lý, khái niêm nghĩa vụ của bị cáo được thửa nhân rộng rai nhất được hiểu la: “việc người hoặc pháp nhân bị Toà án quyết dimh “đi ra vết vit bắt buộc phat thực hiện “.
Như vậy, song hành với quyền là nghĩa vụ, không thể tách rời nhau. Quyên vả nghĩa vụ của bị cáo là quyền và trách. nhiêm của cá nhân, pháp nhân được quy định trong BLTTHS, đất trong mối quan hệ pháp luật tổ tụng hình sự giữa bị cáo va Téa an. Việc ghỉ nhận quyền và nghĩa vụ của bị cáo tạo cơ hội tốt cho bị cáo tham gia vào quá trình tổ tụng.
Khái niệm giai đoan xát xử sơ thẫmvụ ân hình sie “Xét xứ là hoạt động xem xét đánh giá băn chất pháp lÿ của vu việc nhằm đa ra một pI in xét về tinh chất, mức độ pháp if của vụ việc, từ đỏ nhân danh: “Nhà nước đưa ra một phản quyết tương ting với bản chất, mức độ trái hay không, trái pháp luật của vụ vide” Từ điễn Luật học giai thích: “Xét xử sơ thẩm là lẫn đầu tiên đưa vụ ám ra xét xử tại một Toà an có thẩm quyền”Ÿ Quan điểm nay mang tính chất khái quát chung, phan ánh đặc trưng của xét xử sơ thấm là "lần đầu tiên” đưa vụ án ra xét xử va do “một Toa an có thẩm quyển xét xử”. Giai đoạn xét xử sơ thẩm là lần xét xử đâu tiên của Toa án có thẩm quyển thay mặt ‘Repl - Vina học nhấp G009), T đt Late, ph, Từ đồn bieh Whoa Ni. Teplap - Viễnkhea học phép ý C09), Me điên Lec No, T đền bach Wan - Ne. Trgháp 576 * Bộ Trgháp - Viện ôn hoc pap ý 2009),08, 780 nhà nước tiến hanh xét xữ vụ án hình sự một cách toản diện, trên cơ sở ban cáo trang của Viện kiểm sát, xem xét, đánh giá chứng cứ va dua vao kết quả tranh.
tụng tại phiên toa làm cơ sở để đưa ra các phán quyết có căn cử, đúng người, đúng tôi và đúng pháp luật Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự được tiến hành sau khi Toa án thụ lý vụ án. Khi đó, Toa án sé xem xét, kiểm tra nhằm đưa ra phan quyết phù hợp với quy định của pháp luật. Ban án, quyết định cia Toa án chưa có hiệu lực ngay va có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn luật định.