Chương 1. Những vấn đề lý luận về quyên tố cáo của công dân Chương 2. Thực trạng pháp luật về quyên tô cáo và thực tiễn thục hiện quyên to cáo của công dân Chương 3. Quan điểm và giải pháp đảm bảo quyêntổ cáo của công dân 10 NOI DUNG CHUONG 1.
NHUNG VAN DE LY LUAN VE QUYEN TO CAO CUA CONG DAN 1. Khai niém té cao Tô cáo là khái niệm được sử dụng rông rãi trong đời sông xã hội. Hành vì tô cao là phan ứng tự nhiên của con người trước các tác đông của hoản cảnh sông, la su thé hiện sư bât bình của con người đôi với hành vị tiêu cực, trái pháp luật của người, chủ thể khác và sư thông bảo cho người, tô chức khác biết về hànhvi do dé co thái đô, biên pháp giải quyết. Tô cao phan anh su bat ồn của xã hội, của doi ngũ can bộ, nhân viên nhà nước hoặc của bât kỷ ca nhân nao, vì vậy, đây la nguôn tin quan trọng cân được Cơ quan nhà nước tiêp nhân, xử lý.
Vệ hình thái biểu hiện, tô cáo là việc tiết lộ hay công bô môt cách công khai hoặc bí mật thông tin về việc làm bat hợp pháp, trải quy tắc, nguy hiểm hoặc vô đạo đức của một chủ thé nao do toi người có khả năng xử lý, giải quyết hiệu qua’. Tuy nhiên, trong nhiêu trường hợp, tô cáo chỉ là sự thông tin về những hiện tượng cú dâu hiệu vi phạm pháp luật. Cách tiểu nay cho thây tô cáo có thể chỉ là việc đưa ra những thông tin về một hành vi, vụ việc sai phạm nào đó một cách trực tiếp hoặc giản tiếp, công khai hoặc bí mật; hoặc những thông tin về hiện tượng có dâu hiệu vị phạm theo cảm nhận chủ quan của người biết về vụ việc Đã có nhiêu định nghĩa vê tô cáo như theo từ điển Tiêng Việt thì “fố cdo la bảo cáo cho moi người hoặc cơ quan có thâm quyền biết người hoặc hành động vi pham pháp luật nào đó. vạch trần hành đông xâm xa hoặc tôi ác cho mọi - Ama Ozterhau:, Craig Fagan (201 1), Alternative to Silence: VWiisfleblwaer Protection in 10 European Countnes.
H người biết nhằm lên án, ngăn chặn” 7. Theo định nghĩa này hành vị tô cáo có thê là hanhvị vi phạm pháp luật, cũng có thé la hành vì vì pham đạo đức. Những hanh vì nay vừa xâm hại những quan hệ zã hội được quy phạm pháp luật bảo vệ vả điều chỉnh vừa tác đông đên xã hôi với mục đích tiêu cực, cân phải được lên án và đâu tranh quyết liệt. Nêu tiếp cận dưới góc độ xã hôi thì tô cáo là vạch tran những hảnh vì vị phạm pháp luật, vi pham đạo đức cho người khác biết, không chỉ là cơ quan có thâm quyên.
Còn nêu tiép cận dưới góc đô pháp lý thì tô cáo là vạch trân hảnh vi vi phạm hoặc có nguy cơ vi phạm pháp luật, báo cho Cơ quan tô chức co thâm quyên được biết và xử lý. Trong phạm vi luân văn này nghiên cứu chuyên vê quyên tô cao tác giả tiếp cân tô cáo dưới góc đô pháp lý tô cáo là việc cá nhân theo thủ tục quy định của Luật này bảo cho cơ quan, tô chức, cá nhân có thâm quyên biết về hành vị vì phạm pháp luật của bât kỳ cơ quan, tô chức, cá nhân nào gây thiệt hại hoặc đe doa gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyên và lơi ích hợp pháp của cơ quan, tô chức, cá nhân ` Tô cáo, dựa vào hành vị bị tô cáo được phân thành 02 nhóm sau Tô cáo hanh vị vì phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ, Tô cáo hành vi vi phạm pháp luật vê quản lý nhà nước trong các lĩnh vực Theo đỏ: Tô cáo hảnh vị vì phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ công vụ là tô cáo về hành vị vi phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ của các đổi tương sau đây: Cán bộ, công chức, viên chức, người khác được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ, người không con là can bộ, công chức, viên chức nhưng đã thực hiện hanh vị vì phạm pháp luật trong thời gian la can bộ, công chức, viên ` Từ điển Tiếng Viet, NXB Da Nẵng 2002, trang 1008. ' Khoản 1 Điều 2 Luật Tỏ cáo 2018 chức, người không còn được giao thực hiện nhiệm vụ, công vụ nhưng đã thực hiện hanh vị vì phạm pháp luật trong thời gan được gian thực hiện nhiệm vụ, công vụ Cơ quantô chức. Tó cáo hành vi vi phạm pháp luật vê quản lý nhả nước trong các lĩnh vực là tô cáo về hành vi vị phạm pháp luật về quản lý nhà nước trong các lĩnh vực của bat ky cơ quan, tổ chức, cá nhân nảo về việc châp hành quy quy định của pháp luật, trừ hanh vị vì phạm pháp luật trong việc thực hiện nhiệm vụ, công vụ.
Khái niệm quyền tổ cáo Tô cáo cũng lả một trong những quyên cơ bản của con người, của công dân được ghi nhận trong Hiên pháp 2013: Dưới góc đô quyên con người, quyên tô cáo được hiểu là biểu hiện của quyên tự do ngôn luận. Khi do, có thể hiểu “quyên tô cáo” là khả năng của cá nhân, cơ quan, tô chức thực hiện các hảnh vi phát hiện và thông báo cho cơ quan, tô chức, cá nhân co thâm quyên về mọi việc làm, hảnh vị vi phạm pháp luật. Quyên tô cáo của công dân được pháp luật thừa nhận cho công dân được thông báo tới các cơ quan nhà nước về việc làm sai phạm của các tô chức cá nhân. Cụ thể như thừa nhận hình thức thông bảo bằng van ban, bang miéng hay thông bảo qua các phương tiện điện tử là sự thông báo hợp pháp, được thụ lý giải quyết Ngoài Hiện pháp 2013, quyên tô cáo được quy định tập trung tại Luật Tổ cao 2018, Luật phòng chông tham những và văn bản hướng dẫn thi hành các luật nảy.
Trong các văn bản pháp luật không nêu đính nghĩa cụ thể quyên tô cáo nhưng thông qua những quy định dé thé hiện chủ thể, đổi tượng, cách thức thực hiện, biện pháp xử lý liên quan đến quyên tô cao. Trong phạm vi luận văn tác giả đông tình với quan điểm sau, nêu đính nghĩa và bao hàm cả các dâu hiệu để người đọc dễ tiếp cận hơn về quyên tô cáo: “Quyên tố cáo của công dân được 13 hiểu là khả năng của công đân thực hiện các hành vi dudi nhién hinh thie khac nhưm, nhằm thông báo chỉnh thức cho cơ quan, cá nhân có thầm quyền về hành vì của bắt tỳ cả nhân, tô chức nào vì phạm pháp luật. làm ảnh hưởng đến quyền va lot ich hop phap, uy tin va danh du của nhà nước. tô chức, hoặc của cả nhấn, với rnuc đích đề cả nhân, cơ quan có thâm quyền xử Ìý, ngăn ngừa hoặc khắc phuc hậu quả đo hành vi, việc làm đỏ gây ra”.
Từ định nghĩa đó có thé thay quyên tô cáo có các đặc điểm sau: Thứ nhất cìm thê của quyền tô cáo la cả nhân không bắt buộc phải có quyền, lơi ich liên quan trực tiếp đến hành vi bị tô cáo Luật Tô cáo 2018 đã quy định chủ thé tô cáo lả “cá nhân”. “Cả nhân ở đây sẽ được hiểu là cá nhân —- một người, nhiêu người bao gồm người Việt Nam, người nước ngoài, người không quốc tịch. Và theo quy định pháp luật hiện hành tô chức không có quyên tổ cáo. Quyên tô cáo không giới hạn đôi với những cá nhân có quyền, lợi ích liên quan đến hành vị bị tô cáo mà những người không có quyên, lợi ích liên quan nhưng phát hiện, biết đến những hành vì mà cho rằng đây là hànhvi vi phạm pháp luật thì đêu cỏ quyêntô cáo.
Như vậy bât kỳ cá nhân nảo biết được hành vị vi phạm pháp luật đêu có quyên bảo cho cơ quan, tô chức, cá nhân cỏ thấm quyên về hành vị vi phạm đó. Chủ thể tô cáo có thể là cá nhân riêng lễ hoặc nhóm người có cùng lợi ¡ch bị xâm pham/ hoặc cùng biết về hành vi vi phạm cùng thực hiện tô cáo. Thực tế cho thay trong trường hợp một nhóm người tô cáo, co thé chỉ có một người biết về hảnh vị sai phạm, những người còn lại không biết nhưng bị lôi kéo tham gia nhằm tăng áp lực cho cơ quan công quyên hay dư luận Trong một sô trường hợp, người tô cáo cỏ nét tương đồng với người làm chứng trong tô tụng hình sư, đó la việc cả người tô 14 cáo vả người làm chứng đêu biết những thông tin liên quan trực tiếp đến vi pham pháp luật và có nghĩa vụ khai bảo trung thực những tình tiết mà mình biết. Khi nhắc đến quyên tô cáo người ta thường có múi liên hệ với khiêu nại nhưng thực tế chủ thể thực hiên hai quyên nay khác nhau.
Theo quy định tai luật Khiếu nại 2011 quy định về khiêu nại: “Lở việc công dân, cơ quan. tê chức hoặc cẩn bô, công chức theo ti tuc do Luật nà! quy định. đề nghị cơ quan, tô chức, cả nhân có thâm quyền xem xét lại quyết định hành chính. hành vi hành chính của cơ quan hành chính nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan hành chỉnh nhà nước hoặc quyết định R luật cán bộ.
công chức khi có căn cử cho răng quyết đïnh hoặc hành vi dé là trái pháp inật, xâm phạm quyền, iơi ích hợp pháp của mình ” Như vậy ta thây rõ các chủ thê thực hiện quyên khiêu nại phải là đổi tượng chịu sự tác động trực tiêp của quyết định hành chính, hành vị hành chính bị khiêu nại; việc khiêu nại phải được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục mả pháp luật quy định. Đây là dâu hiện dễ nhân thây nhật để người dân phân biệt vả áp dung hai quyền nảy trên thực tê. Thêm nữa, chủ thể của quyêntô cáo là yêutô giúp xác định địa vị của người tô cáo với cơ quan nhà nước hoặc cá nhân, cơ quan, tô chức khác trong quan hệ pháp luật tô cáo. Qua các bản Hiến pháp 1959, Hiển pháp 1080, Hiển pháp 1002, Hiên pháp 2013 quyên tô cáo đêu được ghi nhận là quyên cơ bản của công dân.
Quy địnhvề tô cáo tại Hiên pháp năm 2013 có sự khác biệt hơn là có sự thay đôi từ chủ thể thực hiện quyên tô cáo lả “công dân” thành “mợi người”. Tiếp đến theo quy định tại khoản 1 Điêu 2 Luật tô cáo 2018, chủ thể của quyên tô cáo là “cá nhân”.