Chương 1: Tổng quan các vấn đề cần nghiên cứu, cơ sở lý luận. - Chương 2: Phân tích bản chất và phạm vi quyền tiếp cận nước theo luật quốc tế; theo đó quyền tiếp cận nước là một trong những bước phát triển quan trọng nhất trong thập kỷ qua; là sự gia tăng của các cách tiếp cận theo hướng nhân quyền nhằm cải thiện, khắc phục khủng hoảng nước toàn cầu, nhất là đề xuất được các công cụ thiết lập tiêu chuẩn giám sát thực thi quyền theo Bình luận số 15 đã đánh dấu sự thay đổi quyết định hướng tới xây dựng cơ sở pháp lý về quyền. - Chương 3: Phân tích mối quan hệ giữa tư nhân hóa và quyền tiếp cận nước. - Chương 4: Phân tích nghĩa vụ của Nhà nước trong bảo đảm thực thi quyền tiếp cận nước, tập trung đặc biệt vào bối cảnh tư nhân hoá các dịch vụ về nước.
Tác giả đưa ra 04 nghĩa vụ của Nhà nước: tôn trọng, bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy quyền tiếp cận nước. Nghĩa vụ của Nhà nước để bảo vệ quyền con người chống lại hành vi vi phạm bởi các chủ thể tư nhân là một phần không thể tách rời của các nghĩa vụ của Nhà nước theo các hiệp ước về quyền con người và luật pháp quốc tế. - Chương 5: Phân tích trách nhiệm của các đối tác phi chính phủ trong thực hiện quyền, nhất là các tổ chức quốc tế hỗ trợ nguồn lực cả về tài chính, kỹ thuật, kinh nghiệm giúp các quốc gia cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao điều kiện sống của người dân. Tuy nhiên, nhiều tổ chức thông qua các hỗ trợ này can thiệp vào cơ chế chính trị, vấn đề nội bộ quốc gia.
Chính vì vậy, để hạn chế những mặt tiêu cực Liên hợp quốc sớm ban hành các nghĩa vụ ràng buộc hay Quy tắc ứng xử của các Tập đoàn xuyên quốc gia. Đây là nỗ lực của Liên Hợp Quốc đưa ra các định mức ràng buộc để điều chỉnh hoạt động của các Tập đoàn xuyên quốc gia. 13 - Chương 6 phân tích và thảo luận các thực tiễn tốt từ các cơ quan pháp luật khác nhau như khuôn khổ pháp lý, các sáng kiến chính sách quốc gia, các chiến lược, kế hoạch hành động, các hệ thống quy định và các thể chế do các quốc gia và các đối tượng khác sử dụng phù hợp với các tiêu chuẩn quy định do quyền sử dụng nước. Đóng góp đáng kể của công trình này là xây dựng mô hình trách nhiệm giải trình nhằm bảo đảm rằng các quốc gia và các đối tượng phi chính phủ tham gia cung cấp các dịch vụ về nước đã xác định rõ ràng vai trò và trách nhiệm để thực hiện các nghĩa vụ của quyền con người đối với nước.
Theo đó, Nhà nước có trách nhiệm chấp nhận luật, chính sách, các quy định để bảo vệ lợi ích của quyền tiếp cận nước khỏi sự can thiệp của các đối tác phi chính phủ. Đồng thời, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm đề xuất và thực thi các giải pháp chống lại các vi phạm quyền. Một trong những giải pháp quản lý các đối tác phi chính phủ: minh bạch thông tin, thảo luận hợp đồng [98, tr. Ngoài ra, các biện pháp kỹ thuật cũng được đưa vào áp dụng để giám sát tiến trình cấp nước, như: Kết quả nghiên cứu của công trình: A confluence of new technology and the right to water: experience and potential from South Africa’s constitution and commons – Tích hợp công nghệ mới và quyền tiếp cận nước: kinh nghiệm và tiềm năng từ hiến pháp Nam Phi, cho thấy: Hiến pháp của Nam Phi quy định chi tiết về quyền tiếp cận nước (Section 27).
Tuy nhiên, để đối mặt với những “áp lực” từ thiếu nước, nhiều biện pháp của chính phủ đã được thực thi. Bên cạnh các giải pháp quản lý tổng hợp tài nguyên nước, đầu tư cơ sở hạ tầng, Nam Phi ưu tiên phát triển hệ thống giám sát hoạt động cấp nước từ xa, như: ứng dụng công cụ Telemetry để tự động giám sát số lượng, chất lượng nước sử dụng, phát hiện rò rỉ, lỗi kỹ thuật, xả thải nước sao cho bảo đảm từ 20 đến 50 lít / người / ngày đến tất cả mọi người trong khoảng cách 200m. Các dữ liệu giám sát là “tức thời và thời gian thực” từ hiện trường sẽ được truyền tải đến trung tâm lưu trữ, tới bộ phận quản lý hoặc người dân qua tin nhắn SMS. Việc sử dụng công nghệ thông tin trong quản lý tiếp cận nước đã giảm thời gian tìm kiếm các lỗi kỹ thuật, hạn chế số lượng nguồn nhân lực tham gia vào hệ thống quản lý, do đó chi phí cung cấp dịch vụ sẽ giảm, góp phần tạo nguồn lực cho đầu tư tái thiết và giảm giá thành sản 14 phẩm, qua đó giúp số lượng người dân được tiếp cận nước an toàn tăng lên.
Hay áp dụng công cụ FLOW (Field Level Operations Watch) trong giám sát các điểm dịch vụ nước; dữ liệu sẽ được tải lên mạng Internet từ thực tế bởi các bên cơ quan quản lý địa phương qua ứng dụng điện thoại Android, từ đó thực trạng của mạng lưới phân phối nước sẽ xuất hiện trên Google Maps, những người quan tâm có thể truy cập dễ dàng. Tuy nhiên, có một thực tế là điện thoại thông minh có giá thành cao, không phải người dân nào cũng có thể sở hữu nên việc theo dõi thông tin không dễ dàng, đồng thời đòi hỏi phải có hệ thống cơ sở hạ tầng viễn thông tốt cần có nhiều nguồn lực hơn [101, tr. Các công trình nghiên cứu về tiếp cận nước sạch ở nông thôn Có sự khác biệt lớn giữa tiếp cận các dịch vụ nước ở khu vực nông thôn và thành thị; trong đó người dân nông thôn khó tiếp cận các dịch vụ cấp nước sạch hơn, do thu nhập thấp không đủ kinh phí để trang trải cho tất cả các nhu cầu đời sống hàng ngày; theo thống kê có khoảng 5/6 người không tiếp cận được với nguồn nước được xử lý sống ở vùng nông thôn; người dân nông thôn ít có tiếng nói hơn trong các quyết định chính sách. Ngoài ra, các quy hoạch cấp nước thiếu tính bền vững và năng lực về tài chính, quản lý, các yêu cầu kỹ thuật nên việc cải thiện và duy trì các thành quả cấp nước rất hạn chế.
Điều này được thể hiện trong các công trình nghiên cứu sau: Công trình nghiên cứu của Kerstin Danert and Cara Flowers (2012), People, Politics, the Environment and Rural Water Supplies - Con người, Chính trị, Môi trường và Cấp nước Nông thôn, tập trung phân tích khá toàn diện về quyền tiếp cận nước, nhất là các thành tố liên quan đến cấp nước nông thôn. Cố gắng trả lời các câu hỏi có liên quan, như: cấp nước nông thôn là gì? Tài chính thực thi như thế nào? Ai là người chịu trách nhiệm chính để hiện thực hóa quyền này? Theo đó, các tác giả cho rằng: Với việc tiếp cận nước và vệ sinh được Đại hội đồng Liên hợp quốc công nhận là một quyền độc lập đã mở ra cơ hội mới để cải thiện nguồn cấp nước. Đề xuất thuật ngữ “tiến trình hiện thực hóa” để các quốc gia có thời gian xác định các chiến lược, hiện thực hóa quyền tiếp cận nước phù hợp với bối cảnh trên cơ sở bộ tiêu chuẩn của Bình luận chung số 15 với các hình thức quản lý linh hoạt. Đồng thời, kết luận rằng: Vẫn còn khoảng cách khá lớn trong tiếp cận 15 nguồn nước được cải thiện giữa đô thị và nông thôn; Nghèo đói là yếu tố chủ yếu dẫn đến thiếu các dịch vụ cơ bản, nhất là ở vùng nông thôn của các quốc gia có thu nhập thấp và trung bình.
Nghiên cứu cho rằng, các chính phủ và nhà tài trợ mới chỉ dừng lại ở việc xây dựng và cải thiện các cơ sở cấp nước mà chưa chú trọng đến tính bền vững. Liên hợp quốc ước tính rằng 1/3 chiếc bơm tay đầu tư ở châu Phi không hoạt động; Thực tế, sau khi lắp đặt, chính phủ hoặc NGOs đã bàn giao các thiết bị cấp nước cho cộng đồng, từ đó họ có trách nhiệm quản lý và duy trì sự hoạt động của nguồn cung cấp. Tuy nhiên, chính phủ và các NGO thường quan tâm, chú trọng đến việc mở rộng lắp đặt các thiết bị cấp nước mới, cải thiện chất lượng nguồn nước mà không kèm theo nâng cao năng lực quản lý và nguồn lực tài chính hỗ trợ duy tu, bảo dưỡng nên tính bền vững của các nguồn cung thường không ổn định. Ngoài ra, cư dân nông thôn ít có tiếng nói trong các quyết định về chương trình, kế hoạch và lựa chọn mô hình quản lý sau đầu tư hiệu quả.
Vì vậy, để cải thiện nguồn cấp nước nông thôn cần tập trung vào các giải pháp kỹ thuật, công nghệ, nhất là nâng cao trình độ quản lý và tìm phương pháp quản lý bền vững hướng tới hoàn thành mục tiêu Thiên niên kỷ số 7, khoản c: Giảm một nửa số người không tiếp cận bền vững với nước uống an toàn và vệ sinh cơ bản thông qua các chính sách, tài chính và phương pháp tiếp cận cung cấp nước sinh hoạt kể từ năm 2000 [97, tr. Trong công trình nghiên cứu: “On the right track: Good practices in realising the rights to water and sanitation – Đi đúng hướng: Bài học hay về thực hiện quyền nước và vệ sinh” của chuyên gia độc lập Liên hợp quốc về quyền tiếp cận nước và vệ sinh đã tổng quan nhiều hướng tiếp cận và các giải pháp của các quốc gia đã áp dụng để thực thi quyền, như: tiếp cận nước theo hướng cung ứng hoặc theo nhu cầu đối với cung cấp các dịch vụ nước, trong đó tiếp cận cung ứng được xem là giải pháp từ trên xuống, chính phủ (hoặc các cơ sở cung cấp được ủy quyền) cung cấp dịch vụ nước với sự tham gia hạn chế của người sử dụng, đây được xem là cách tiếp cận phổ biến ở các khu vực phát triển bởi không có sự lựa chọn về loại hình và giá cả dịch vụ; tiếp cận theo nhu cầu là loại hình người sử dụng tham gia đầy đủ các quyết định liên quan đến loại hình dịch vụ và mức giá phải trả; tiếp cận theo cung ứng phù hợp với nguyên tắc các chính phủ có trách 16 nhiệm bảo đảm rằng các quyền về nước được thực hiện cho tất cả mọi người, tuy nhiên, nếu bỏ qua sự tham gia của người dân và cộng đồng có thể các dịch vụ cung cấp không đáp ứng các nhu cầu và mong muốn cụ thể của cộng đồng.