phần mở đầu và kết luận, nội dung luận văn gồm có 02 chương: Chƣơng 1. Trách nhiệm của báo chí đối với quyền về đời sống riêng tư Chƣơng 2. Các phương thức bảo vệ đời sống riêng tư trong lĩnh vực báo chí. Đối với đề tài “Quyền về đời sống riêng tư trong lĩnh vực báo chí theo pháp luật dân sự Việt Nam”, với vai trò là một người làm báo, tác giả sẽ tập trung phân tích ở 02 nội dung lớn là trách nhiệm của báo chí đối với quyền đời sống riêng tư, trong đó phân tích những quy định của pháp luật dân sự ghi nhận về trách nhiệm của báo chí về quyền đời sống riêng tư, từ đó xác định phạm vi trách nhiệm của báo chí đối với quyền này.
Đồng thời cũng nêu ra những phương thức giải quyết khi báo chí xâm phạm quyền đời sống riêng tư. 5 CHƢƠNG 1 TRÁCH NHIỆM CỦA BÁO CHÍ ĐỐI VỚI QUYỀN ĐỜI SỐNG RIÊNG TƢ Tại Việt Nam, vấn đề bảo vệ quyền về đời sống riêng tư được ghi nhận trong nhiều ngành luật với các góc độ khác nhau. Luật dân sự là ngành luật chính và hoàn chỉnh nhất trong việc ghi nhận về quyền đời sống riêng tư. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để căn cứ và xác định phạm vi xâm phạm quyền riêng tư trong hoạt động của báo chí.
Ở Chương này, tác giả tập trung nghiên cứu cơ chế pháp lý bảo vệ quyền về đời sống riêng tư. Trên cơ sở đó tìm hiểu toàn diện hệ thống pháp luật Việt Nam, học hỏi các kinh nghiệm lập pháp và tri thức của thế giới đối với quyền về đời sống riêng tư, từ đó ghi nhận và xác định phạm vi trách nhiệm của báo chí đối với việc bảo vệ quyền về đời sống riêng tư. Đồng thời, nêu ra những bất cập trong thực tiễn áp dụng đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật. Ghi nhận trách nhiệm của báo chí về quyền đời sống riêng tƣ Đời sống riêng tư của cá nhân được pháp luật bảo vệ và bất khả xâm phạm.
Đây là quyền nhân thân gắn liền với mỗi cá nhân. Pháp luật có những ghi nhận về quyền đời sống riêng tư trong Hiến pháp, trong Bộ luật dân sự và cũng được đề cập trong một số văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật Xuất bản, Luật Báo chí, Luật An toàn thông tin mạng, Luật trẻ em…. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc đảm bảo quyền về đời sống riêng tư của cá nhân trong lĩnh vực báo chí. Ghi nhận quyền về đời sống riêng tư trong pháp luật dân sự Việt Nam Quyền về đời sống riêng tư là một trong những quyền cơ bản quan trọng nhất của con người được Hiến pháp năm 2013 ghi nhận.
Tại Điều 21 Hiến pháp năm 2013 quy định: “1. Mọi người có quyền bất khả xâm phạm về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình; có quyền bảo vệ danh dự, uy tín của mình. Thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được pháp luật bảo đảm an toàn”. Trong Bộ Luật dân sự (BLDS) 2015, Điều 38 quy định: “Quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình được quy định là một trong các quyền nhân thân của cá nhân, bất khả xâm phạm và được pháp luật bảo vệ.
Việc thu thập, lưu giữ, sử dụng, công khai thông tin liên quan đến đời sống riêng tư, bí mật cá nhân phải được người đó đồng ý, trừ trường hợp luật có quy định khác”. 6 Khoản 11 Điều 6 LTE, cấm “Công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em mà không được sự đồng ý của trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên và của cha, mẹ, người giám hộ của trẻ em”. Với tính chất đặc thù của nghề nghiệp, báo chí hoạt động trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và liên quan nhiều đến đời tư cá nhân, đồng thời cũng là lĩnh vực dễ xâm phạm đời tư nhất. Chính vì thế trách nhiệm của báo chí trong việc tôn trọng đời sống riêng tư của cá nhân là điều tối cần thiết, phải được ghi nhận là nguyên tắc trong hoạt động báo chí.
Tại khoản 5, 9 Điều 9 Luật Báo chí 2016, sửa đổi, bổ sung năm 2018 quy định các hành vi bị cấm là: “5. Tiết lộ thông tin thuộc bí mật đời tư của cá nhân và bí mật khác theo quy định của pháp luật; 9. Các hành vi thông tin ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường về thể chất và tinh thần của trẻ em”. Có thể thấy, quyền về đời tư trong lĩnh vực báo chí quy định còn rất sơ xài, chưa rõ.
Khi áp dụng thực tiễn trong lĩnh vực ngành, phải viện dẫn các văn bản luật khác, trong khi các văn bản này cũng không thống nhất với nhau về nội dung, phạm vi bảo vệ. Với những vấn đề nêu trên, tác giả nhận thấy còn nhiều bất cập trong việc ghi nhận trách nhiệm của báo chí đối với quyền riêng tư: Một là, chưa đưa ra khái niệm về quyền đời sống riêng tư trong quy định pháp luật Trước đây, cũng chưa có khái niệm rõ ràng về “bí mật đời tư”, trong luật chỉ ghi nhận về quyền bí mật đời tư phải được tôn trong, mặc dù “bí mật đời tư” được đề cập khá nhiều trong các văn bản pháp luật, các văn bản áp dụng hướng dẫn thi hành pháp luật. Đây chính là một trong những khó khăn mà cơ quan nhà nước có thẩm quyền gặp phải khi áp dụng pháp luật giải quyết tranh chấp liên quan đến “bí mật đời tư” hoặc xử lý vi phạm bí mật đời tư. Bởi vì quyền về “bí mật đời tư” dựa trên khái niệm “bí mật đời tư”.
Ví dụ: Bản án số: 763/2007/DS-PT ngày 16/7/2007 của Toà án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh1. Ông Trần Tiến Đức được Toà án Nhân dân quận Phú Nhuận xử cho ly hôn với vợ là bà N. Tháng 10 năm 1996, Nhà xuất bản Trẻ phối hợp với Báo Tuổi Trẻ xuất bản cuốn “Ký sự pháp đình”, tác giả là nhà báo Thuỷ Cúc, 1 Phụ lục 1. 7 trong đó có bài “Tổ ấm”.
Đây là bài ký sự, có nội dung viết về phiên toà ly hôn của ông Trần Tiến Đức, mặc dù họ tên của nguyên đơn đã được viết tắt là T. Sau đó, ông Trần Tiến Đức đã khởi kiện Nhà xuất bản Trẻ, Báo Tuổi Trẻ và nhà báo Thuỷ Cúc vì cho rằng bị xâm phạm bí mật đời tư khi bài “Tổ ấm” đề cập đến quá khứ của bà N.T vợ cũ của ông) và quyền truy nhận cha cho con của ông. Phía bị đơn cho rằng, bài viết “Tổ ấm” là ký sự pháp đình, không bôi nhọ danh dự, nhân phẩm cũng như bí mật riêng tư của ai - những thông tin đã công khai tại phiên toà không phải là bí mật đời tư, “bí mật” là những gì không được công khai. Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định: Ba đồng bị đơn đã có hành vi xâm phạm đời tư của ông TTĐ, buộc nhà báo Thuỷ Cúc, Báo Tuổi Trẻ và Nhà xuất bản Trẻ phải đăng lời cải chính trên Báo Tuổi Trẻ; buộc ba đồng bị đơn phải liên đới bồi thường cho ông Đức; buộc Nhà xuất bản Trẻ không được lưu hành, không được tái bản cuốn “Ký sự pháp đình” của nhà báo Thuỷ Cúc có bài viết “Tổ ấm”.
Không đồng ý với phán quyết của Toà án cấp sơ thẩm, các đồng bị đơn đã kháng cáo với lý do bản án sơ thẩm được tuyên không có căn cứ pháp luật, Hội đồng xét xử đã tự “sáng tác” luật, lạm quyền trong khi xét xử bởi vì pháp luật chưa có định nghĩa thế nào là bí mật đời tư, mặt khác những thông tin được công khai tại phiên tòa không thể xem là “bí mật”. Hội đồng xét xử nhận định: Tác giả bài viết “Tổ ấm” là người trực tiếp theo dõi diễn biến phiên toà, biết rõ các tình tiết về đời sống hôn nhân, mâu thuẫn vợ chồng, các con ông Đức là đời tư của ông TTĐ, nhưng vẫn tường thuật chi tiết, nguyên văn những tình tiết ấy trong bài “Tổ ấm”, biên tập sách “Ký sự pháp đình” phát hành rộng rãi ra thị trường khi chưa được sự đồng ý của ông Đức là trái với quy định tại Điều 34 Bộ Luật dân sự năm 1995. Lẽ ra tác giả bài viết chỉ dựa vào nội dung vụ án thông qua phiên toà và các tình tiết của vụ án đã được hư cấu viết bài phản ánh, để người đọc không nhận biết được nội dung nói về đời sống hôn nhân của ông Đức. Với những nhận định tương tự như Toà án cấp sơ thẩm, Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm đã bác kháng cáo của các đồng bị đơn, y án sơ thẩm.
Trong vụ án trên, Hội đồng xét xử bị cho là đã tự “sáng tác” luật, lạm quyền trong khi xét xử bởi vì pháp luật chưa có định nghĩa thế nào là bí mật đời tư. Việc Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân Quận 3 tạm đưa ra định nghĩa về khái niệm pháp luật “bí mật đời tư trong vụ án ly hôn” rồi dùng nó làm căn cứ để tuyên án cụ thể là 8 không được thuyết phục. Tuy nhiên, không có quy định pháp luật, toà án đã phải đối mặt với nhiều khó khăn khi xác định hành vi xâm phạm quyền riêng tư trong giải quyết tranh chấp. Đối với vụ án nêu trên, tác giả đồng ý với nhận định của Hội đồng xét xử, mặc dù Luật Báo chí không đưa ra khái niệm bí mật đời tư nhưng chúng ta có thể hiểu bí mật đời tư là những thông tin, tư liệu liên quan đến cá nhân mà cá nhân đó không muốn cho người khác biết.
Những thông tin, tư liệu gắn với nhân thân của cá nhân, bao gồm những thông tin, tài liệu, hình ảnh, tình yêu, gia đình, các mối quan hệ… Xét ở góc độ nghĩa của từ ngữ theo từ điển tiếng Việt, bí mật đời tư của cá nhân được hiểu là những gì thuộc về đời sống riêng tư của cá nhân được giữ kín, không công khai, không tiết lộ ra. Còn nếu các thông tin, tư liệu cá nhân đã được công khai, lộ ra thì không còn là bí mật đời tư nữa. Trong khi đó, đời sống riêng tư của cá nhân là tập hợp các yếu tố tạo thành nét riêng đặc thù, độc lập, không thể trộn lẫn và mang dấu ấn của riêng cá nhân.