phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung cơ bản của luận văn bao gồm hai chƣơng, năm tiết. z 8 Chƣơng 1 KHÁI QUÁT VỀ TRIẾT HỌC BÉCTƠRĂNG RÁTXEN 1. BÉCTƠRĂNG RÁTXEN - NGƢỜI SÁNG LẬP CHỦ NGHĨA THỰC CHỨNG MỚI Nói đến triết học Anh hiện đại, chúng ta không thể không nhắc tới B. Với trí tuệ siêu việt, sức làm việc phi thƣờng, suốt nửa đầu thế kỷ XX, B.
Rátxen là trung tâm chú ý của công luận. Các công trình của ông trong những ngành khoa học xã hội và nhân văn, lôgíc toán, triết học. đƣợc các học giả đƣơng thời đánh giá là những bƣớc ngoặt có thể sánh ngang với các kết quả nghiên cứu cơ bản của Niutơn trong cơ học. Là một nhà triết học, B.
Rátxen kiên trì theo đuổi đƣờng lối của chủ nghĩa kinh nghiệm cổ điển Anh, bắt nguồn từ Beccơli, G.Lốccơ, Hume và Muylơ. Ông là một trong những ngƣời sáng lập ra chủ nghĩa thực chứng mới, những tƣ tƣởng triết học của ông có ảnh hƣởng quan trọng tới các nhà triết z 9 học thực chứng khác nhƣ: Vitgensơtêin (Witgenstein), Rilơ (H.trong triết học Anh; Lơrôvít (A. Lazerowits) trong triết học ngôn ngữ Mỹ,. Không chỉ là một khuôn mặt lớn trong triết học và toán học, B.
Rátxen còn thành công ở nhiều lĩnh vực khác nhƣ lôgíc học, xã hội học, tâm lý học. Ông còn là nhà chính luận, nhà hoạt động xã hội đấu tranh cho tự do và hoà bình của nhân loại. Đặc biệt, ông còn thành công trong lĩnh vực văn học. Viện Hàn lâm Thụy Điển trao giải thƣởng Nôben văn học cho B.
Rátxen vào năm 1950 nhằm tôn vinh ông “nhƣ một ngƣời phát ngôn lừng lẫy bậc nhất cho lẽ phải và chủ nghĩa nhân đạo., nhƣ một dũng sỹ của tự do tƣ tƣởng và tự do ngôn luận ở phƣơng Tây” [Xem 39, tr. Cho đến nay, không ít những quan điểm triết học của B. Rátxen đã bị vƣợt qua. Song, cuộc đời ông, sự nghiệp khoa học của ông vẫn là hình tƣợng tiêu biểu của một học giả hiện đại, hài hƣớc, dí dỏm, thẳng thắn, luôn đăm chiêu suy nghĩ, tìm tòi, đấu tranh hết mình cho điều thiện, cho hoà bình và hạnh phúc của nhân loại.
Béctơrăng Rátxen và con đƣờng hình thành quan điểm triết học của ông. Béctơrăng Rátxen có tên đầy đủ là Bertrand Arthur William Russell. Ông sinh ngày 18 tháng 5 năm 1872 ở Ravenscroft, gần Trelleck, Monmouthshire trong một gia đình dòng dõi quí tộc lâu đời của nƣớc Anh. Từ thế kỷ XVI, dƣới thời của vua Henri VIII, một cận thần là Giôn Rátxen (John Russell) đƣợc nhà vua phong thƣởng tƣớc quý tộc cùng với đất đai thuộc tu viện Woburn.
Tƣớc hiệu và đất đai đƣợc cha truyền con nối đến thời B. Rátxen là mƣời ba thế hệ. Dòng họ Rátxen từng giữ những chức vị cao trong lịch sử phong kiến nƣớc Anh, ông nội của Béctơrăng (cũng tên là John Russell), từng hai lần làm thủ tƣớng dƣới triều Nữ hoàng Victoria (thế kỷ z 10 XIX). Rátxen - Huân tƣớc Amhơli Rátxen (Amherly Russell) - là đại biểu quốc hội (1867-1868), sau đó ông bị loại ra khỏi quốc hội vì có tƣ tƣởng tự do, từ bỏ đạo Ki-tô, đòi quyền bầu cử cho phụ nữ, theo chủ trƣơng hạn chế sinh đẻ.
Rátxen đƣợc một tuổi, cả cha mẹ và chị gái đều lần lƣợt mất vì bệnh bạch hầu. Trƣớc khi mất, cha của B. Rátxen đã chỉ định hai ngƣời giám hộ để chăm sóc và dạy dỗ B. Rátxen theo những tƣ tƣởng tự do, tiến bộ mà ông bà đã theo đuổi, nhƣng chính quyền không chấp nhận, buộc B.
Rátxen về sống với ông bà nội ở Pembroke Lodge. Rátxen lớn lên trong sự chăm sóc và dạy dỗ nghiêm khắc của bà nội. Rátxen theo lối sống “thanh giáo” giống nhƣ lối sống của đại đa số những gia đình quý tộc Anh thời Victoria - nghiêm khắc, coi thƣờng những điều kiện vật chất, không coi trọng ăn uống, cấm ngƣời nhà uống rƣợu, hút thuốc, buổi sáng cả nhà phải tập trung để đọc kinh thánh. Bà thƣờng giáo dục B.
Rátxen về luân lý phải yêu thƣơng cha mẹ, yêu thƣơng mọi ngƣời, phải yêu nƣớc, không đƣợc ham tiền bạc, quyền hành, nhục dục, phản đối chiến tranh xâm lƣợc của đế quốc Anh đối với các dân tộc khác. Chính lối giáo dục này đã có ảnh hƣởng rất lớn đến tâm hồn và sự nghiệp của B. Rátxen sau này. Rátxen đƣợc giáo dục tại gia đình, đến năm 1889 (năm 17 tuổi) ông thi đỗ thủ khoa vào đại học Cambridge.
Trong những năm đầu học ở đại học Cambridge, B. Rátxen ham mê nhất là môn toán học, nhƣng sau đó, ông nhận thấy môn toán không thể giải đáp đƣợc những thắc mắc của ông về “tính dục” và “tôn giáo” - đây là hai vấn đề nảy sinh sớm nhất trong tƣ tƣởng của B. Rátxen từ thủa nhỏ và nó cũng là điều trăn trở suốt cuộc đời ông. Chính vì vậy mà B.
Rátxen quyết định chuyển sang học triết học với hy vọng sẽ giải quyết đƣợc những thắc mắc của mình. z 11 Nhƣ trên đã đề cập, trong những năm đầu học ở đại học Cambridge, B. Rátxen đã say mê đi vào nghiên cứu toán học. Rátxen giành 3 năm cùng với Oaitơhét (A.
Whitehead - một trong những nhà toán học và triết học nổi tiếng ở đại học Cambridge) - nghiên cứu về toán học. Nhƣng, môn toán học không thể làm thoả mãn trí ham hiểu biết của ông. Từ năm thứ tƣ ở đại học, ông chuyển sang nghiên cứu triết học với một tâm trạng vui mừng mà theo ông “nhƣ đƣợc giải phóng để nhảy vào thế giới triết học kỳ dị và khác thƣờng” [Dẫn theo 23, tr. Nhà triết học có ảnh hƣởng tới sự hình thành tƣ tƣởng triết học của B.
Rátxen thời kỳ này trƣớc hết là Giêmxơ Min (James Mill) với học thuyết “Kinh nghiệm”. Tuy nhiên, trong bối cảnh mà triết học Anh đang chịu ảnh hƣởng lớn do sự hƣng thịnh của triết học duy tâm Đức lúc bấy giờ - cả chủ nghĩa duy tâm tiên nghiệm của I.Cantơ và chủ nghĩa duy tâm khách quan của Hêghen - ảnh hƣởng của thuyết kinh nghiệm đối với B. Rátxen kéo dài không bao lâu. Vào năm 1893, khi Brơlây (F.
Bradley 1864-1924) viết cuốn “Hiện tƣợng và thực tại” (Appearance and Reality), thì một trào lƣu tƣ tƣởng ngả theo chủ nghĩa Hêghen mới ở Anh đã nảy sinh và phát triển. Rátxen chịu ảnh hƣởng sâu sắc nhất là từ McTơggớt (J. McTaggart 1866 -1925) khi nhà triết học này dùng triết học của Hêghen chống lại kinh nghiệm luận tuyên bố có thể dùng lôgíc của Hêghen để chứng minh thế giới này là tốt đẹp, linh hồn là bất tử. Rátxen hoàn toàn chuyển sang siêu hình - thứ siêu hình học “nửa Cantơ nửa Hêghen”.
Điều này đƣợc B. Rátxen thừa nhận trong cuốn “Sự tiến hoá triết học của tôi” (My Philosophical Development). Ông viết, “tất cả những gì ảnh hƣởng đến tôi - đó là khuynh hƣớng của chủ nghĩa duy tâm Đức - hoặc là Cantơ hoặc là Hêghen” [Xem 61, tr. Rátxen, đây là thời kỳ ông “nhất thời đi vào con đƣờng duy z 12 tâm”.
Tuy nhiên, thời kỳ này không kéo dài. Cuối năm 1898, bắt đầu là G. Moore 1873 - 1958) và sau đó là B. Rátxen đã nối tiếp nhau thoát ly khỏi chủ nghĩa tâm Đức, chuyển hƣớng sang chủ nghĩa thực tại mới.
Sự chuyển hƣớng triết học của B. Rátxen từ chủ nghĩa duy tâm sang chủ nghĩa thực tại mới đƣợc bắt đầu từ sự ảnh hƣởng của Morơ. Từ cuối năm 1898, sau khi B. Rátxen tiếp xúc với những tác phẩm không đƣợc công bố của Morơ nhƣ: “Bản chất của phán đoán” và “Bác bỏ chủ nghĩa duy tâm” - viết về vấn đề mối tƣơng quan của tri giác với đối tƣợng vật lý - B.
Rátxen đã từ bỏ chủ nghĩa chủ nghĩa duy tâm tuyệt đối. Đúng lúc đó, trong triết học Anh - Mỹ xuất hiện chủ nghĩa thực tại mới. Từ năm 1898 đến năm 1920, sự tiến hoá triết học của B. Rátxen diễn ra trong khuôn khổ của trào lƣu triết học này.
Chủ nghĩa thực tại mới chủ trƣơng “.với một cảm giác thoát khỏi tù ngục, chúng ta cho phép mình suy nghĩ cỏ là màu xanh; mặt trời và các vì sao đang tồn tại, cho dù không ai ý thức đến chúng; thế giới ý niệm đa nguyên và vĩnh hằng của Platon là tồn tại. Thế giới lôgíc vốn đã bị khô héo đó chỉ trong chốc lát trở thành phong phú, đa dạng và vững chắc” [Xem 23, tr. Thực chất của sự chuyển biến này, theo B. Rátxen, đó là “sự nổi loạn vào đa nguyên luận”.
Với những quan điểm cơ bản nhƣ: phân tích không có nghĩa là xuyên tạc; một mệnh đề là chân thực thì tính chân thực của nó là do nó có mối liên hệ với sự thực, mà sự thực nói chung là độc lập với kinh nghiệm. Kết quả về mặt tƣ tƣởng của sự chuyển biến lần này của B. Rátxen đã mang lại cho ông một số quan điểm có ý nghĩa đặt nền tảng cho sự phát triển triết học của ông về sau này. Những học thuyết đƣợc B.
Rátxen sử dụng với tƣ cách cơ sở nền tảng của chủ nghĩa thực chứng mới. z 13 Nhƣ trên đã đề cập, B. Rátxen là một trong những ông tổ triết học của chủ nghĩa thực chứng mới - một trong hai khuynh hƣớng chủ đạo của triết học phƣơng Tây đầu thế kỷ XX - khuynh hƣớng duy lý và khuynh hƣớng phi duy lý. Trong quá trình ra đời và phát triển của mình, chủ nghĩa thực chứng mới luôn mở ra những cách tiếp cận mới, vì vậy, tên gọi của nó cũng luôn thay đổi: “Nguyên tử lôgíc luận”, “Chủ nghĩa thực chứng lôgíc”, “Chủ nghĩa kinh nghiệm lôgíc”, “Triết học ngôn ngữ”, “Triết học của ngôn ngữ cuộc sống”, v.
Mặc dù có nhiều tên gọi nhƣng bản chất thực chứng mới vẫn không có gì thay đổi, đó là “phƣơng pháp phân tích” của chủ nghĩa thực chứng mới với tham vọng xác lập đƣờng lối thứ ba trong triết học - đƣờng lối “vƣợt lên trên” sự đối lập giữa chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm, kết hợp khoa học với tôn giáo. Từ “phƣơng pháp phân tích” này, chủ nghĩa thực chứng mới còn đƣợc biết đến với một tên gọi khá phổ biến - “Triết học phân tích”. Với những học thuyết cơ bản nhƣ: “mối quan hệ bên ngoài”, thuyết “nguyên tử lôgíc”, thuyết “nhất nguyên trung lập”, thuyết “lý luận từ mô phỏng”, B. Rátxen đã đặt nền móng cho sự ra đời của chủ nghĩa thực chứng mới.
Trong luận văn này, trọng tâm của chúng tôi là phân tích quan điểm của B. Rátxen về “quyền lực”. Do vậy, chúng tôi không phân tích toàn bộ những học thuyết triết học của ông, mà chỉ trình bày một cách sơ lƣợc hai học thuyết nền tảng cơ bản của B.