Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƢỜI ĐỒNG TÍNH, SONG TÍNH VÀ CHUYỂN GIỚI 1. Khái niệm đồng tính, song tính và chuyển giới Đồng tính, song tính và chuyển giới là một khái niệm xuất hiện nhiều trong thực tiễn xã hội trong một số năm gần đây tại Việt Nam. Tuy nhiên, khái niệm này trên phạm vi quốc tế đã đƣợc đề cập đến từ rất lâu. Đồng tính, song tính và chuyển giới có thể đƣợc gọi tắt là LGBT - là cách gọi theo viết tắt tiếng Anh của các từ Lesbian (đồng tính nữ), Gay (đồng tính nam), Bisexual (song tính) và Transgender (chuyển giới).
Nhƣ vậy, cách gọi là đồng tính, song tính và chuyển giới hay gọi tắt là LGBT - khi sử dụng cụm từ viết tắt có ý nghĩa tƣơng tự nhau. Thực tiễn cho thấy có nhiều vấn đề về vấn đề đồng tính, song tính và chuyển giới nhƣ: đồng tính có phải là giới tính thứ ba, là bệnh hoạn, có khả năng lây truyền hay không? Nên gọi là lƣỡng tính hay song tính? Phân biệt ngƣời chuyển giới với ngƣời đồng tính nhƣ thế nào, có phải phẫu thuật chuyển giới rồi thì mới đƣợc xem là ngƣời chuyển giới hay không? Các câu hỏi này khi đƣợc trả lời chúng ta sẽ có cái nhìn chung nhất về đồng tính, song tính và chuyển giới. Đầu tiên chúng ta cần hiểu khái niệm đồng tính và song tính là gì? Trƣớc khi đƣợc nghiên cứu một cách đầy đủ nhất thì có một số quan điểm cho rằng, đồng tính, song tính là giới tính thứ ba bên cạnh hai giới tính nam và nữ. Đây là một quan niệm mang tính chất sai lầm khi nhận định xu hƣớng tính dục nhƣ một sự phân chia giới tính mang tính chất nguyên nghĩa.
Khi tìm hiểu về đồng tính và song tính nhất thiết chúng ta cần tìm hiểu về khái niệm xu hƣớng tính dục (sexual orientation) - trong nhiều tài liệu dịch là khuynh hƣớng tính dục. 8 z Ngay từ những năm 1970, Ủy ban giáo dục và thông tin về tình dục ở Mỹ đã đƣa ra định nghĩa hiện đại về tính dục nhƣ sau: Tính dục là tổng thể con ngƣời, bao gồm mọi khía cạnh đặc trƣng của con trai hoặc con gái, đàn ông hoặc đàn bà và biến động suốt đời. Tính dục phản ánh tính cách con ngƣời, không phải chỉ là bản chất sinh dục. Vì là một biểu đạt tổng thể của nhân cách, tính dục liên quan tới yếu tố sinh học, tâm lý, xã hội, tinh thần và văn hóa của đời sống.
Những yếu tố này ảnh hƣởng đến sự phát triển nhân cách và mối quan hệ giữa ngƣời với ngƣời và do đó tác động trở lại xã hội [8]. Tính dục là khía cạnh văn hóa, xã hội và nhân văn của tình dục. Nhƣ vậy, xu hƣớng tính dục là một trong những yếu tố cấu thành nên tính dục. Những yếu tố còn lại là giới sinh học (cấu trúc gene, ngoại hình, nội tiết), bản sắc giới và vai trò xã hội của giới.
Theo định nghĩa của Hiệp hội Tâm lý Hoa Kỳ (APA) thì: Xu hƣớng tính dục là một sự hấp dẫn có tính bền vững về cảm xúc hoặc về mặt tình dục của một ngƣời về phía những ngƣời khác giới, cùng giới hoặc cả hai giới. Nói đến xu hƣớng tính dục ngƣời ta cũng nói đến bản dạng tình dục là cảm nhận của một ngƣời tự xác định về xu hƣớng tính dục của mình [62]. Trải qua vài thập niên nghiên cứu về xu hƣớng tính dục thì có thể chia làm ba dạng với tên gọi: dị tính luyến ái (bị hấp dẫn của ngƣời khác giới tính), đồng tính luyến ái (bị hấp dẫn bởi ngƣời cùng giới tính), lƣỡng tính luyến ái (bị hấp dẫn bởi cả nam và nữ). Khác với hành vi tình dục, xu hƣớng tính dục bao gồm cả những tình cảm và cảm nhận cá nhân.
Hành vi tình dục của một ngƣời có thể phản ánh xu hƣớng tính dục của họ, cũng có thể không. Tính dục đồng giới là một xu hƣớng tính dục trong đó một ngƣời cảm 9 z nhận thấy sự hấp dẫn tính dục chủ yếu từ những ngƣời có cùng giới tính với mình. Tính dục đồng giới ngƣợc với tính dục khác giới, sự hấp dẫn tính dục đến từ những ngƣời thuộc giới tính khác, và khác với lƣỡng giới, sự hấp dẫn tính dục đến từ những ngƣời thuộc cả hai giới tính. Thực tế hiện nay, có năm xu hƣớng tính dục chính, đó là: - Xu hƣớng tính dục khác giới (Heterosexual) - Ngƣời bị hấp dẫn về mặt tình cảm và tình dục với ngƣời khác giới tính, không bao giờ có mong muốn mình có giới tính khác với giới tính khi đƣợc sinh ra), những ngƣời này thƣờng đƣợc gọi là ngƣời dị tính.
- Xu hƣớng tính dục cùng giới (Homosexual) - Ngƣời bị hấp dẫn với ngƣời cùng giới tính, không bao giờ mong muốn mình có giới tính khác với giới tính khi đƣợc sinh ra, trong đó nam giới (tiếng Anh gọi là "gay") và nữ giới (tiếng Anh gọi là "lesbian"), những ngƣời này đƣợc gọi chung là ngƣời đồng tính. - Xu hƣớng song tính (Bisexual) - Một ngƣời không cho rằng mình mang giới tính khác với giới tính sinh học của bản thân và bị hấp dẫn với cả hai giới tính nam và nữ. Trƣớc đây, xu hƣớng này đƣợc sử dụng với thuật ngữ là lƣỡng giới. Tuy nhiên, nếu sử dụng thuật ngữ này sẽ dễ dẫn đến cách hiểu là ngƣời đó mang trong mình cả hai giới tính nam và nữ.
Thực chất, họ có cả hai xu hƣớng tính dục dị tính và đồng tính, không phải mang hai giới tính. Từ đó, thuật ngữ song tính đƣợc sử dụng để thay thế thuật ngữ lƣỡng giới. - Xu hƣớng toàn tính (Pansexual) - Ngƣời bị hấp dẫn bởi bất kỳ giới nào. Cần phân biệt xu hƣớng toàn tính với xu hƣớng song tính.
Khi nói dị tính, đồng tính hay song tính, chúng ta đang dựa trên quan niệm rằng mọi ngƣời đều phân ra làm hai giới (nam và nữ). Tuy nhiên ta cũng biết, xét về bản dạng giới, một ngƣời có thể nhận mình là nam, nữ, hoặc cả hai, hoặc ở đâu đó giữa nam và nữ, hay ở đâu đó ngoài nam và nữ. Nhƣ vậy, ngƣời song 10 z tính bị hấp dẫn bởi nam và nữ, còn ngƣời toàn tính bị hấp dẫn bởi tất cả mọi ngƣời, không phân biệt ngƣời đó có nhận dạng giới là gì. - Không bị hấp dẫn tình dục với bất kỳ giới nào (Asexual - Vô tính) đây là xu hƣớng tính dục chƣa đƣợc nghiên cứu nhiều.
Họ là những ngƣời không có bất kỳ sự hấp dẫn tình dục với bất kỳ ngƣời mang giới tính nào, kể cả nam và nữ, cũng nhƣ những ngƣời đồng tính khác. Với cách xác định nhƣ trên, đồng tình và song tính là hai trong năm xu hƣớng tính dục của con ngƣời không liên quan đến vấn đề giới tính. Xu hƣớng dị tính chiếm số đông trong xã hội hiện nay. Một ngƣời có giới tính nam hoặc nữ hoàn toàn có thể là ngƣời dị tính, đồng tính, song tính, toàn tính hoặc vô tính.
Cũng cần quan tâm rằng không phải lúc nào xu hƣớng tính dục cũng đƣợc bộc lộ ra bên ngoài để ngƣời khác có thể nhận thấy mà nhiều khi nó đƣợc giấu kín. Đồng thời các nhà tâm lý xác định rằng không coi xu hƣớng tính dục là sự lựa chọn có ý thức mà ngƣời ta có thể tùy ý thay đổi đƣợc và đó là bản chất tự nhiên, vốn có của mỗi con ngƣời từ khi sinh ra. Đồng tính là từ viết tắt của cụm từ đồng tính luyến ái (Homosexual). Ngƣời đồng tính là ngƣời bị hấp dẫn với ngƣời có cùng giới tính, không bao giờ mong muốn mình có giới tính khác với giới tính khi đƣợc sinh ra, trong đó nam giới (tiếng Anh gọi là "gay") và nữ giới (tiếng Anh gọi là "lesbian"), những ngƣời này đƣợc gọi chung là ngƣời đồng tính.
Dƣới góc độ khoa học, theo quan điểm của APA, đồng tính hoàn toàn không là sự một sự rối loạn tâm sinh lý mà là một hiện tƣợng sinh học tự nhiên, chịu sự tác động qua lại phức tạp của các yếu tố di truyền và yếu tố môi trƣờng tử cung trong giai đoạn đầu ở thai nhi. Các hành vi tình dục đồng giới, quan hệ yêu đƣơng đồng giới là một trong các dạng thức gắn bó bình thƣờng để đáp ứng các nhu cầu cơ bản của con ngƣời về tính yêu, sự gắn bó và quan tâm. 11 z Kết quả nghiên cứu, thống kê, khảo sát của các nhà nghiên cứu tâm thần học, nhi khoa khác đều đi đến kết luận, đồng tính không phải là sự rối loạn tâm thần mà là một hiện tƣợng bình thƣờng trong tự nhiên, những ngƣời có xu hƣớng tính dục trên hoàn toàn không phải là do lựa chọn chủ quan của họ. Ngày 17-5-1990, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã xóa bỏ đồng tính ra khỏi danh sách các bệnh tâm thần.
Nhƣ vậy, cần phải khẳng định lại rằng, đồng tính là một xu hƣớng tính dục hoàn toàn tự nhiên, không phải là giới tính thứ ba nhƣ nhiều ngƣời lầm tƣởng và cũng không phải một trào lƣu. Về mặt sinh học, ngƣời đồng tính vẫn là nam giới/nữ giới và cũng không phải là ngƣời song tính. Ngƣời song tính (bisexual) là ngƣời có xu hƣớng tính dục song tính (có khả năng cảm thấy bị hấp dẫn về mặt tình cảm, cảm xúc hay thể chất với cả hai giới tính là nam và nữ). Tiếp theo, chúng ta cần tìm hiểu và khái niệm ngƣời chuyển giới.
Khác với ngƣời đồng tính hay song tính, ngƣời chuyển giới phải đề cập đến khái niệm bản dạng giới (gender identity) và họ tự nhận mình mang giới tính khác với giới tính sinh học. Ngƣời đồng tính, song tính liên quan đến khái niệm xu hƣớng tính dục, chỉ một ngƣời có tình cảm, nhu cầu yêu đƣơng với một ngƣời cùng giới tính hay khác giới tính với mình. Trong khi đó, khái niệm bản dạng giới đƣợc hiểu là "việc một người tự nhận mình mang một giới tính nào, có thể giống hoặc khác với giới tính sinh học khi được sinh ra" [63]. Có thể hiểu khái quát, nếu một ngƣời sinh ra và tự nhận mình mang giới tính giống với giới tính sinh học khi đƣợc sinh ra, có tình cảm, cảm xúc với ngƣời cùng giới tính với mình thì ngƣời đó là ngƣời đồng tính.
Nếu ngƣời này có tình cảm với ngƣời khác giới tính với mình thì đó là ngƣời dị tính. Tuy nhiên, "nếu người nói trên tự nhận mình mang giới tính khác với giới tính sinh học khi được sinh ra thì đó là người chuyển giới (transgender)" [29].