Chương 1: Một số van đề lý luận về quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyền giới. Chương 2: Thực trạng quy định của pháp luật và thực hiện quy định của pháp luật về quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyên giới ở nước ta hiện nay. Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền con người của người đông tính, song tính và chuyên giới ở nước ta hiện nay. CHUONG 1 - MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE QUYEN CON NGƯỜI CUA NGƯỜI DONG TINH, SONG TÍNH VA CHUYEN GIỚI 1.1 Khái niệm người đồng tính, song tính, chuyến giới, quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới 1.1 Khái niệm người đồng tính, song tính, chuyển giới Dựa trên các xu hướng tính dục và bản dạng giới, người đồng tính, song tinh và chuyền giới đã được định nghĩa như sau [18]: Người đồng tính (Homosexual): là một người nam hoặc nữ, có sự hấp dẫn về cảm xúc, tình cảm hoặc tình dục với người cùng giới.
Người đồng tính nam thường được gọi là “gay”, người đồng tinh nữ thường được gọi là “/es” hay “lesbian”. Người song tính (Bisexual): là một người nam hoặc nữ, có sự hấp dẫn về cảm xúc, tình cảm hoặc tình dục với cả hai giới nam và nữ nhưng không nhất thiết cùng một lúc hoặc ngang băng nhau. Song tính còn được gọi là lưỡng tính. Song tính không phải là một giai đoạn nhất thời hay đang chần chừ mà là một xu hướng tính dục tự nhiên của con người.
Người chuyên giới (Transgender): là những người có bản dang giới hay thé hiện giới khác với những quy ước và mong đợi chung dành cho giới tính sinh học của họ. Một số cách gọi khác của người chuyền giới là người hoán tính, người xuyên giới/vượt giới hoặc là người chuyên đổi giới tính. Người chuyên giới bao gồm người chuyển đổi giới tinh (từ nam sang nữ hoặc từ nữ sang nam, có thé đã phẫu thuật chuyên giới hoặc chưa phẫu thuật chuyên giới); ngwoi ăn mặc chuyển giới tiêng Anh là “cross dresser” (nam ăn mặc như nữ và nữ ăn mặc như nam) và người biểu dién ăn mặc chuyển giới (tiếng Anh là “drogqueen” cho nam và “drogking” cho nữ): đó là những người ăn mặc theo giới kia nhằm mục đích biểu diễn giải trí cho các quán bar, câu lạc bộ, các sự kiện nói chung. Người chuyền giới có suy nghĩ về việc mình mang giới tính trái với “giới tính sinh học” của mình.
Họ mong muốn được xã hội thừa nhận giới tính khác nên có khuynh hướng nhờ đến sự can thiệp của y học dé phẫu thuật chuyên đổi giới tính, “ong muốn tìm lại giới tính thật của mình”. Họ tin rằng giới tính được sinh ra của họ là sai lệch so với con người thật của họ. Cho đến nay, các nhà tâm thần học, tâm lý học và chuyên gia sức khỏe tâm thần đã đồng ý với nhau rang đồng tinh không phải là bệnh, tôi loạn tâm lý hay van đề về cảm xúc. Tô chức y tế thế giới (WHO) và Hiệp hội tâm lý học Hoa Ki APA đã xác nhận dị tính, đồng tính hay song tính đều là những xu hướng tính dục bình thường, tự nhiên và là hiện thực của loài người.
Năm 1990 WHO đã chính thức loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh. LGBT là những người có cau trúc gen, sinh học, nội tiết tố bình thường; hình thé là nam hay nữ bình thường; và họ có cảm nhận về giới là nam hay nữ rõ ràng. Họ chỉ khác với đa số người khác ở xu hướng tính dục và bản dạng giới. Nguyên nhân vì sao một người có xu hướng tính dục khác so với phần lớn người trong xã hội thì y học ngày nay không rõ.
Tuy nhiên, đây không phải là sự lựa chọn do ý thức cá nhân vì xu hướng tính dục này hình thành từ rất sớm, cá nhân người đó và cha mẹ họ hoàn toàn không thê kiểm soát được và không chịu trách nhiệm về xu hướng nay. LGBT không phải là người có bệnh lý tâm thần hay rối loạn nhân cách, hành vi tình dục đồng giới của họ không thể lây nhiễm cho người có xu hướng tình duc di tính. Vì vậy, không thé ép buộc, điều trị hoặc áp dụng liệu pháp tâm lý để xóa bỏ được xu hướng tính dục đồng giới; cũng như không thê làm một người có xu hướng tính dục khác giới thành một người có xu hướng tính dục đồng giới. Việc cô gang điều trị nhằm làm thay đổi xu hướng tính dục không những không có tác dụng mà còn có những tác hại rất lớn.
Theo các nghiên cứu xã hội học, tỉ lệ cộng đồng LGBT gần như không thay đổi ở mọi xã hội, thời đại: thường chiếm khoảng 3-5% dân số mỗi quốc gia - tỉ lệ này gồm cả người có quan hệ luyến ái với người cùng giới ở mức độ không thường xuyên. Nếu so tỷ lệ trên với bảy tỉ người trên thế giới hiện nay, thì số LGBT có một số lượng không nhỏ. Nếu lấy tỉ lệ trung bình an toàn mà nhiều nhà khoa học thừa nhận là 3% dân số là LGBT thì số LGBT ở Việt Nam trong độ tudi từ 15 đến 59 tam tính khoảng 1,65 triệu người (tính theo dân số Việt Nam năm 2007 có 55,38 triệu người trong độ tuổi 15 đến 59) [31] 1.2 Khái niệm quyền con người của người đồng tinh, song tinh và chuyển giới Theo Từ điển luật học quyền là những hành vi hợp pháp mà các cá nhân, pháp nhân, nhà nước thực hiện, không ai có thể ngăn cám[32]. Việc thực hiện quyền phụ thuộc vào ý chí của chủ thể, không bắt buộc, trừ những trường hợp quyền đồng thời là nghĩa vụ, trách nhiệm.
Theo định nghĩa của Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người, quyền con người (human rights) là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions) hoặc sự bỏ mặc (omissions) mà làm tôn hại đến nhân phẩm, những sự được phép (entitlements) và tự do cơ bản (fundamental freedoms) của con người [6]. Quyền con người là giá trị thiêng liêng của một người từ khi sinh ra đến khi chết đi. Thực tế, thế giới đã công nhận các quyền con người này từ rất lâu và được ghi nhận trong các văn kiện như: Hiến chương Liên hợp quốc (1945), Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (1948), Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (1966), Công ước quốc tế về các quyên kinh tế, xã hội và văn hóa (1966), Công ước chống phân biệt đối xử đối với phụ nữ (CEDAW). Quyền con người được xác định là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ.
Những chuẩn mực này kết tinh những giá trị nhân văn của toàn nhân loại, chỉ áp dụng với con người, cho tất cả mọi người. Nhờ có những chuân mực này, mọi người trên thê giới mới được bảo vệ nhân phâm và mới có điều kiện phát triển đầy đủ các năng lực của cá nhân với tư cách là một con người. Quyền con người là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội va trong mọi giai đoạn lich sử. Quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyển giới thuộc nhóm quyén của những đối tượng dé bị ton thương.
Nhóm đối tượng dễ bi tổn thương có thé được hiểu là “nhom cộng đồng có vị thé về chính trị, xã hội hoặc kinh tế thấp hon, từ đó khiến họ có nguy cơ cao hon bị bỏ quên hay bị vi phạm các quyên con người, và bởi vì vậy, họ can được chú y bao vệ đặc biệt so với những nhóm, cộng dong người khác ”[2]. Mặc dù cho đến nay, quyền con người của người LGBT mới phát sinh trong xã hội và có nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, có thé khái quát rằng, quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyên giới là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ nhóm người LGBT chống lại những hành động kì thị, miệt thị, xúc phạm và phân biệt đối xử làm tốn hại đến nhân phẩm, đến việc thực hiện quyền tự do cơ bản của nhóm người này. Bao gồm tất cả những quyền mà một cá nhân là con người được hưởng (ví dụ như quyền mưu cầu hạnh phúc, đối xử bình đắng) và là những quyền đặc thù chung của một nhóm xã hội nhất định, ở đây đề cập đến nhóm xã hội có xu hướng tính dục và bản dạng giới khác so với phần lớn người trong xã hội (ví dụ quyền được phẫu thuật chuyên đổi giới tính, quyền kết hôn của những người đồng tính.
Họ là nhóm xã hội phải chịu thiệt thòi và có xuất phát điểm thấp hơn cho nên họ xứng đáng và cần thiết được hưởng các quyền đặc thù (các quyền của nhóm) dé có thé đạt được sự bình đăng thực chất với các nhóm khác trong việc thụ hưởng các quyền con người. Thừa nhận và bảo đảm quyền con người của người LGBT là hết sức cần thiết để giữ cho một xã hội ồn định, phát triển. Việc phủ nhận, coi nhẹ bât cứ quyên nào của họ đêu có thê dân đên mât ôn định xã hội.2 Đặc điểm quyền con người của người đồng tính, song tinh va chuyển giới 1.1 Quyền con người của người đồng tính, song tính và chuyền giới mang đặc tính quyền tự nhiên của con người Người LGBT đồng tính, song tính và chuyền giới là người bình thường như mọi cá nhân khác trong xã hội, được quyền hưởng các quyền bình đăng, ngang băng và có khả năng thực hiện các nghĩa vụ giống như những người khác. Một trong những quyền quan trọng nhất là quyền được sống, công nhận và tôn trong, được hưởng chính sách an sinh xã hội bình đăng như các chủ thé khác trong xã hội.
Người LGBT cần được xã hội nhìn nhận như người bình thường với đầy đủ các quyền và nghĩa vụ không được xúc phạm, miệt thị họ. Người LGBT có thể làm bất cứ điều gì mà mình mong muốn mà không gặp bất kỳ cản trở nào. Như vậy, quyên được công khai xu hướng tính dục, bản dạng giới là một trong những quyền mà người LGBT cần được hưởng, đó là một phần của tự do. Tuy nhiên, trên thực tế việc thực hiện quyền này của người LGBT gặp nhiều rào cản bởi định kiến xã hội dẫn đến nhiều thiệt thòi cho họ.
Tuyên ngôn độc lập của Hợp chủng quốc Hoa Kỳ năm 1776 đã ghi rõ: “Tat cả mọi người sinh ra có quyền bình dang. Tạo hóa cho họ những quyên không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền đó có quyên được sống, quyên tự do và quyền muu cau hạnh phic”.