mở đầu công việc xây dựng đất nước bước vào quy mô lớn, đặt nền tảng vững chắc và toàn diện cho sự phát triển của dân tộc và của quốc gia phong kiến độc lập". Đắp đê trị thủy đã trực tiếp ảnh hưởng đến quyền lợi của quốc gia không thể phó mặc cho sự tự phát cửa dân chúng. Đến năm 1077 triều đình đứng ra chủ trương đắp những con đê quy mô lớn. Theo Việt sử lược, thì năm ấy nhà Lý cho đắp đê sông Như Nguyệt (Sông Cầu) dài 67.
Sang đến đời Trần đã cho đắp thêm theo từng tuyến sông chính từ đầu nguồn ra đến biển, tôn cao đắp to những đoạn đã có, đắp thêm những đoạn nối, cải tạo một số tuyến vòng vèo bất hợp lý. Về cơ bản những tuyến đê đó gần giống như ngày nay, nhất là tuyến đê sông Hồng và sông Cầu. Về kỹ thuật đắp đê thời kỳ này là bước một bước nhảy vọt, tạo nên thế nước chảy thuận hơn mặt khác cũng phải có những tiến bộ kỹ thuật nhất định mới có thể xác định được tuyến đê, chiều cao đê từng đoạn cho phù hợp với đường mặt nước lũ. Ngoài việc đắp đê nhà Trần còn rất coi trọng công tác hộ đê phòng lụt, đặt thành trách nhiệm cho chính quyền các cấp.
“Năm nào cũng vậy, vào tháng sáu, tháng bảy (mùa lũ) các viên đê sứ phải thân đi tuần hành, thấy chỗ nào non phải tu bổ ngay, hễ biếng nhác không làm tròn phận sự để đến nỗi trôi dân cư, ngập lúa mạ, sẽ tùy tội nắng nhẹ mà khiển phạt”.1 Một cảnh đắp đê thời Trần Các triều đại phong kiến sau này dựa vào đó mà tiếp tục phát triển hệ thống đê điều đã có và phát triển tiếp lên. Theo sách Đại Nam thực lục thì dưới triều Nguyễn năm đó vua còn cho đắp bảy đoạn đê mới ở Bắc Bộ. Đến tháng 9 năm 1809, triều Nguyễn đã ban hành điều lệ về đê điều ở Bắc Bộ với các quy định rất chặt chẽ về việc kiểm tra, phòng chống lũ và gia cố hệ thống đê điều hàng năm. Thời kỳ Pháp thuộc, với tư cách là người thống trị, thực dân Pháp nhận thức ngay được tầm quan trọng và kinh tế chính trị Bắc Kỳ.
Vì vậy ngay từ những ngày đầu thiết lập nền đô hộ, chính quyền Pháp cũng rất chú trọng đến tình hình đê điều và trị thuỷ của Việt Nam. Trong quá trình cai trị của mình chính quyền Pháp đã gặp phải không ít những thiệt hại do thiên tai, lũ lụt gây ra, đặc biệt nghiêm trọng như trận lũ lịch sử năm 1915 gây thiệt hại rất nghiêm trọng về người và nhà cửa. Sau trận lụt lịch sử đó, trước áp lực của dư luận, chính quyền thực dân mới nghiên cứu thực hiện một kế hoạch đắp đê Bắc bộ tương đối quy mô, trong đó có nhiều biện pháp mà ngày nay chúng ta vẫn còn nhắc tới như: Tái sinh rừng thượng nguồn để chậm lũ; xây dựng hồ chứa ở thượng nguồn để cắt lũ; đắp đê cao hơn mức lũ đặc biệt; củng cố đê hiện tại và tôn cao đến mức an toàn tuyệt đối… 7 Hệ thống đê điều Việt Nam hiện nay có khoảng hơn 8.000 km là đê sông, còn lại là đê biển với khối lượng đất ước tính là520 triệu m3. Sự hình thành hệ thống đê thể hiện sự đóng góp, cố gắng của nhân dân trong suốt nhiều thế kỷ qua.
Mặc dù tại một số nơi đê còn chưa đảm bảo tính ổn định cao đối với lũ lớn tuy vậy vai trò bảo vệ của các tuyến đê sông hay hệ thống đê biển là rất to lớn và không thể phủ định. Hàng năm, hệ thống đê này đều được đầu tư củng cố, nâng cấp, đặc biệt là đối với đê sông sau khi xảy ra lũ lớn đã từng bước củng cố vững chắc đáp ứng được yêu cầu chống lũ đặt ra của từng thời kỳ.1 Hệ thống đê sông Việt Nam Đê sông của Việt Nam không nối liền nhau mà tạo thành dẫy theo hệ thống các con sông. Hệ thống đê ở đồng bằng sông Hồng bao gồm hệ thống đê sông Hồng và hệ thống đê sông Thái Bình, đây là hệ thống đê sông có quy mô lớn nhất nước ta với tổng chiều dài khoảng 2. Nhìn chung, đê có chiều cao phổ biến từ 5 ÷ 8 mét, có nơi cao tới 11 mét.
Trong đó đê thuộc hệ thống sông Hồng bao gồm 18 tuyến với tổng chiều dài khoảng 1.314 km dọc theo các sông: Đà, Thao, Lô, Phó Đáy, Hồng, Đuống, Luộc, Trà Lý, Đào, Ninh Cơ và sông Đáy. Đê thuộc hệ thống sông Thái Bình bao gồm 27 tuyến với tổng chiều dài khoảng 698 km dọc theo các sông: Công, Cầu, Thương, Lục Nam, Thái Bình, Kinh Thầy, Lai Vu, Cà Lồ, Văn Úc, Lạch Tray, Hóa, Cấm, Bạch Đằng, Tam Bạc, Nam, Đá Bạch và sông Chanh. Các tuyến đê ở các tỉnh miền Trung bao gồm tuyến đê thuộc hệ thống sông Mã và sông Cả đây là hai hệ thống sông lớn ở Bắc Trung Bộ. Hệ thống đê sông Mã, sông Cả có tổng chiều dài là 381,47km, trong đó chiều dài đê thuộc hệ thống sông Mã, sông Chu là 316,1km; Chiều dài đê thuộc hệ thống sông Cả, sông La là 65,4km.
Thượng nguồn của hai hệ thống sông này chưa 8 có hồ chứa để tham gia điều tiết lũ, vì vậy đê vẫn là biện pháp công trình duy nhất và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong chống lũ. Hiện tại tuyến đê thuộc hai hệ thống sông này chỉ còn khoảng 31 km đê thấp so với thiết kế, khoảng164km có mặt cắt đê nhỏ, mái dốc chưa có cơ, thân đê còn nhiều khuyết tật, nền đê nhiều đoạn là nền cát hoặc bùn; lòng sông có độ dốc lớn và diễn biến rất phức tạp, nhiều đoạn đê sát sông. Ở miền Nam hệ thống đê điều chủ yếu là đê biển và đê cửa sông, đê sông ở miền Nam có kết cấu đơn giản, chủ yếu là đê bao, đê bối ngăn mặn. Hệ thống đê biển Việt Nam Trải qua thời gian dài xây dựng và phát triển nước ta hiện nay đã có khoảng 2700 Km đê biển, đê cửa sông trải khắp từ Quảng Ninh đến Kiên Giang.
Đê biển của ta không liền tuyến mà bị ngăn cách nhiều đoạn bởi 114 cửa sông lớn nhỏ khác nhau. Chính vì vậy mà tổng chiều dài đê cửa sông xấp xỉ bằng đê trực tiếp biển. Trong tổng số 117 huyện ven biển thì có 105 huyện có đê biển. Tổng chiều dài kè biển là 364km và số cống dưới đê biển là 1.
Dọc ven biển Việt Nam có rất nhiều đảo và quần đảo trong đó có 120 đảo lớn. Hầu hết các tuyến đê biển hiện nay có nhiệm vụ bảo vệ sản xuất nông nghiêp. Ở đồng bằng Bắc Bộ và Thanh Hoá vùng có đê biển bảo vệ sản xuất 3 vụ, còn đối với các tỉnh miền Trung, Nam Bộ sản xuất 2 vụ, có nơi 3 vụ. Có khoảng 300 km đê biển để nuôi trồng thủy sản được phát triển mạnh những năm gần đây.
Theo số liệu thống kê, hiện nay ở nước ta có khoảng 2700Km đê biển, đê cửa sông chia làm 3 vùng: Bắc Bộ (từ Quảng Ninh đến Hậu Lộc - Thanh Hóa), Trung Bộ (Nam Thanh Hóa đến Bình Thuận) và Nam Bộ (từ Bà Rịa-Vũng Tàu đến Kiên Giang). 9 Cho đến nay, cả nước đã xây dựng được khoảng 6.150 km đê sông, 2500 km đê biển. Cụ thể (i) Chương trình củng cố nâng cấp hệ thống đê biển các tỉnh từ Quảng Ninh đến Quảng Nam (Quyết định số 58/2006/QĐ-TTg ngày 14/03/2006 của Thủ tướng Chính phủ): Tổng chiều dài: 1.693 km; đã củng cố, nâng cấp được: 569,893 km. Kinh phí đã được đầu tư đến 2014: 8.738,432 tỷ đồng (Trong đó: TW 7.409,220 tỷ đồng, các nguồn vốn khác 1.329,212 tỷ đồng); (ii) Chương trình củng cố nâng cấp hệ thống đê biển các tỉnh từ Quảng Ngãi đến Kiên Giang (Quyết định số 667/QĐ-TTg ngày 27/05/2009 của Thủ tướng Chính phủ): Tổng chiều dài: 1.168,41 km; đã củng cố, nâng cấp được: 145,413 km.
Kinh phí đã được đầu tư đến 2014: 2.211,331 tỷ đồng (Trong đó: TW 1.192 tỷ đồng, các nguồn vốn khác 629,139 tỷ đồng).(iii) Tiếp tục đôn đốc các địa phương thực hiện Chương trình củng cố, nâng cấp hệ thống đê sông tại Quyết định số 2068/QĐ-TTg ngày 09/12/2009 10 Bảng 1.1 Bảng báo cáo hiện trạng đê điều năm 2014 (theo cục quản lý đê điều và phòng chống lụt bão) ĐÁNH GIÁ BÁO CÁO HIỆN TRẠNG ĐÊ ĐIỀU NĂM 2014 HIỆN TRẠNG 19 TỈNH CÓ ĐÊ 2014 Chiều dài đã được cứng hóa (m) Số Km Hành lang chân đê cần Tre Tỉnh/Tuyến Chiều Cấp cứng STT Vị trí Cấp Tổng Phía Phía Cống chắn đê dài (km) đê Bê tông Nhựa hóa Cộng phối cộng sông đồng sóng bằng bê tông I Phú Thọ 53.800 K72,000 II Hà Tĩnh 19.000 K19,200 III Bắc Giang 130.450 Thương K43,800 11 K0,000 - 3 Tả Thương 26.700 2 12 cửa sông) -K62,500 K0,000 - 9 Hữu Mã 36.500 2 cửa sông) K59,000 K0,000 - 13 Tả Lèn 20.000 Hữu Lèn K25,000- 17 (đê cửa 4.000 3 K29,000 sông) Hữu Lạch K0,000 - 18 14.000 Trường K14,600 Tả Lạch K0,000 - 19 15.800 2 Trường K15,800 Tả Lạch 7.270 2 K20,070 cửa sông) VII Nghệ An 46.000 K4,427 IX Đồng Tháp 8.680 Bình K9,680 K22,300- 3 Tả Đuống 31.000 K82,350 K8,100 - 5 Hữu Cà Lồ 6.000 K14,350 XI Hải Dương 256.550 1 Bình K29,150 Hữu Thái K29,150- 2 10.043 Bình K40,050 Hữu Thái K40,050- 3 9.665 3 Bình K49,715 14 Tả Thái K0,000 - 4 4.670 2 Bình K4,670 Tả Thái K4,670 - 5 24.818 Bình K29,500 Tả Thái K29,500- 6 20.118 2 Bình K49,618 Hữu Kinh K0,000 - 7 19.603 3 Thầy K32,803 K0,000 - 9 Hữu Lai Vu 4.186 Thầy K17,676 K0,000 - 11 Tả Lai Vu 4.300 Môn K20,838 K0,000 - 15 Tả Rạng 22.000 Tray K7,345 XII Hà Nội 404.000 K6,500 K0,000 - 14 Hữu Cà Lồ 9.000 K9,065 15 Tả Cà Lồ K0,000 - 20.000 K4,000 XIII Ninh Bình 150.000 Long K23,988 Hữu Hoàng K0,000 - 4 19.000 Long K19,400 K0,000 - 5 Trường Yên 6.968 K26,931 XIV Hải Phòng 258.600 Tray K37,000 Tả Lạch K0,000 - 4 15.000 Tray K15,000 K0,000 - 5 Hữu Cấm 14.321 Bình K24,100 Tả Thái K0,000 - 8 27.350 Úc K24,797 XV Nam Định 271.000 2 - Quần Liêu K1,800 XVI Hưng Yên 76.680 K20,700 XVII Vĩnh Phúc 90.615 Ninh 1 Hà Nam K0,000 - 33.615 19 K33,670 XIX Thái Bình 213.000 K150,000 K150,00- 2 Hồng Hà II 50. Tổng quan về tổ chức hệ thống quản lý đê điều 1. Trách nhiệm quản lý nhà nước về đê điều 1. Trách nhiệm quản lý nhà nước về đê điều của Chính phủ, bộ và các cơ quan ngang bộ.