Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài Chương 2:Một số lý luận chung về quy trình thẩm định dự án vay vốn tại các NHTM. Chương 3: Phương pháp nghiên cứu và các kết quả phân tích thực trạng quy trình thẩm định tín dụng dự án đầu tư tại SCB – HN. Chương 4: Các kết luận và đề xuất để hoàn thiện quy trình thẩm định tín dụng dự án đầu tư tại SCB – HN. SV: Nguyễn Thị Thanh Thúy Lớp: K43H4 Luan van Luận Văn Tốt Nghiệp 4 Khoa: Tài Chính - Ngân Hàng CHƯƠNG 2: MỘT SỐ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUY TRÌNH THẨM ĐỊNH DỰ ÁN VAY VỐN TẠI CÁC NHTM 2.
Một số khái niệm về dự án vay vốn và thẩm định dự án vay vốn tại các NHTM.1 Dự án vay vốn. Theo Luật đầu tư: Dự án đầu tư là tập hợp các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn để tiến hành các hoạt động đầu tư trên địa bàn cụ thể, trong khoảng thời gian xác định. Khái niệm này được xác định dựa trên ba tiêu chí bao gồm: Một là các đề xuất bỏ vốn trung và dài hạn. Hai là các dự án đó được thực hiện trên một địa bàn xác định.
Cuối cùng, là dự án đầu tư đó được giới hạn trong một khoảng thời gian xác định.2 Các loại dự án vay vốn Theo Nghị định số 10/2005/NĐCP ngày 7/5/2005 của Chính phủ, DA đầu tư được phân loại như sau: * Theo quy mô và tính chất dự án: dự án đầu tư được phân thành 4 nhóm sau ( cụ thể tại phụ lục) - Dự án quan trọng quốc gia. * Theo nguồn vốn đầu tư: Dự án đầu tư được phân thành 4 nhóm sau - Dự án sử dụng vốn ngân sách nhà nước; - Dự án sử dụng vốn tín dụng do nhà nước bảo lãnh, vốn tín dụng phát triển đầu tư của nhà nước. - Dự án sử dụng vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước; - Dự án sử dụng vốn khác bao gồm cả vốn tư nhân hoặc sử dụng hỗn hợp nhiều nguồn vốn. Thẩm định dự án vay vốn Thẩm định tín dụng Ngân hàng là việc xem xét, đánh giá hồ sơ khách hàng bao gồm hồ sơ pháp lý, hồ sơ năng lực tài chính và hồ sơ phương án, dự án vay vốn trên cơ sở đảm bảo nguyên tắc cho vay, nguyên tắc giá trị thời gian của tiền với chi phí vốn SV: Nguyễn Thị Thanh Thúy Lớp: K43H4 Luan van Luận Văn Tốt Nghiệp 5 Khoa: Tài Chính - Ngân Hàng đầu tư để đưa ra kết luận về hiệu quả và mức độ rủi ro của phương án phục vụ cho quyết định cho vay của Ngân hàng.
Việc thẩm định tín dụng trước khi cấp vốn cho khách hàng nhằm các mục đích: - Hạn chế rủi ro tín dụng. - Nâng cao chất lượng và hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng. - Hạn chế rủi ro đạo đức trong kinh doanh Ngân hàng. - Ổn định thị trường tài chính.
Hoạt động cho vay là hoạt động là một hoạt động thường xuyên của NHTM, là nguồn mang lại thu nhập lớn nhất cho Ngân hàng nhưng cũng tiềm ẩn rất nhiều rủi ro. Do đó công tác thẩm định tín dụng trước khi cấp vốn cho khách hàng là thực sự cần thiết. Một Ngân hàng hoạt động an toàn với các khoản vay có chất lượng sẽ thu hút được khách hàng, nâng cao khả năng cạnh tranh của Ngân hàng trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới. Quy trình thẩm định dự án vay vốn tại NHTM 2.
Khái niệm quy trình thẩm định dự án vay vốn Quy trình thẩm định dựa án là một quy trình mô tả chi tiết toàn bộ quá trình bao gồm các bước, các nguyên tắc thực hiện quy định trong việc thẩm định cho vay tại các NHTM 2. Nội dung quy trình thẩm định dự án vay vốn 2.Đánh giá chung về năng lực pháp lý, năng lực hoạt động của người vay * Đánh giá về năng lực pháp lý: Năng lực pháp lý của người vay được thể hiện qua năng lực hành vi dân sự ( đối với cá nhân ) hay tư cách pháp nhân ( đối với doanh nghiệp ), các giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các giấy tờ về sự ủy quyền vay vốn… - Đối với khách hàng là cá nhân, hộ gia đình,cơ sở sản xuất kinh doanh: +Cá nhân vay vốn là công dân Việt nam có đủ từ 18 tuổi trở lên. +Không bị mất hoặc hạn chế năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự. +Căn cứ xác định nhân thân:sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân, hoặc các giấy tờ tùy thân khác như giấy phép lái xe, hộ chiếu… +Giấy phép hành nghề, giấy đăng ký kinh doanh ( nếu có ).
- Đối với khách hàng là doanh nghiêp: SV: Nguyễn Thị Thanh Thúy Lớp: K43H4 Luan van Luận Văn Tốt Nghiệp 6 Khoa: Tài Chính - Ngân Hàng + Doanh nghiệp vay vốn phải có đầy đủ tư cách pháp nhân (trừ doanh nghiệp tư nhân) theo quy định của pháp luật. + Xem xét điều lệ, quy chế tổ chức hoạt động của doanh nghiệp để nắm rõ phương thức quản trị, điều hành, xác định người đại diện theo pháp luật, trong quan hệ với các tổ chức, cá nhân(Chủ tịch hội đồng quản trị, Hội đồng thành viên, Tổng giám đốc, Giám đốc). + Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, các giấy tờ về sự ủy quyền vay vốn… phải có hiệu lực trong thời hạn cho vay. *Đánh giá về năng lực, kinh nghiệm quản lý, tư cách lãnh đạo doanh nghiêp -Tuổi tác, trình độ học vấn, kinh nghiệm lãnh đạo.
-Thời gian công tác, đảm nhiệm chức vụ, kết quả hoạt động của Doanh nghiệp từ sau khi Ban lãnh đạo đảm nhiệm chức vụ so với trước đây. -Tác phong, phương pháp điều hành, tính chuyên nghiệp trong quản lý. -Sự am hiểu về tình hình sản xuất kinh doanh, dự án,thị trường của Ban lãnh đạo. -Tầm nhìn và định hướng phát triển doanh nghiệp.
-Khả năng xử lý đối với các biến động bất lợi mà Doanh nghiêp, dự án có khả năng gặp phải. Việc tổ chức đánh giá trình độ tổ chức quản lý và uy tín của khách hàng nhằm hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro do chủ quan của khách hàng gây nên như: rủi ro về đạo đức, rủi ro về thiếu kinh nghiệm, trình độ, năng lực, khả năng thích ứng với thị trường, phát hiện những âm mưu lừa đảo ngay từ đầu của một số khách hàng. *Uy tín của khách hàng -Mối quan hệ với các Ngân hàng: xem xét, đánh giá về mức độ tín nhiệm trong quan hệ với các Ngân hàng, tổ chức tín dụng trong doanh số tiền gửi, trả nợ tiền vay, thực hiện cam kết. -Mối quan hệ về công nợ, thanh toán của khách hàng với các bạn hàng.
-Vị trí của khách hàng trên thương trường: chất lượng, giá cả hàng hóa, dịch vụ, sản phẩm của khách hàng ở mức độ nào trên thị trường, mức độ chiếm lĩnh thị trường của sản phẩm. * Đánh giá về quá trình phát triển và tình hình hoạt động của khách hàng SV: Nguyễn Thị Thanh Thúy Lớp: K43H4 Luan van Luận Văn Tốt Nghiệp 7 Khoa: Tài Chính - Ngân Hàng - Quá trình thành lập và phát triển, tăng trưởng của khách hàng, mục tiêu hoạt động của khách hàng… - Những thành tích đã đạt được trong quá trình hoạt động. - Quy mô kinh doanh, công nghệ thiết bị, địa điểm hoạt động, loại hình sở hữu, những sản phẩm chính, những tiện ích, những mối quan hệ về tiêu thụ sản phẩm, quan hệ về tài chính. - Hoạt động kinh doanh hiện tại, các sản phẩm chính những năm gần đây.
- Xem xét chiến lược kinh doanh của Doanh nghiệp, mục tiêu, dự định, mục đích của Doanh nghiệp, chiến lược phải mang tính thực tiễn trong phạm vi nguồn lực mà doanh nghiệp có, đồng thời phải có tính linh hoạt đủ để đáp ứng khả năng thay đổi của thị trường. -Phân tích khả năng cạnh tranh và phương thức tiếp thị của khách hàng: khách hàng phải tự khẳng định vị trí của mình trên thị trường bằng nguồn lực của mình (kinh nghiệm, quy mô, tính linh hoạt, khả năng quản lý, trình độ công nghệ…) Sau khi tiến hành đánh giá về năng lực pháp lý và năng lực hoạt động của người vay, CBTD sẽ có cái nhìn chung nhất về tính pháp lý của cá nhân, doanh nghiệp và khả năng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đó. Đây là một trong những căn cứ quan trọng trong quyết định cho vay của NHTM sau này.Thẩm định tình hình tài chính của khách hàng *Nguyên tắc thẩm định, phân tích: Việc thẩm định và phân tích tài chính của khách hàng chủ yếu dựa trên cơ sở các số liệu do khách hàng cung cấp. Do đó, cần phải thẩm tra căn cứ lập báo cáo tài chính và tính xác thực của các thông tin, số liệu được cung cấp, cụ thể: + Chế độ kế toán áp dụng, nguyên tắc hạch toán.
+ Nguồn số liệu: Được kiểm toán độc lập. Được cơ quan thuế chấp thuận. Do doanh nghiệp tự lập. + Kiểm tra tình hình thực tế của khách hàng: Trị giá hàng tồn kho, các khoản phải thu, các khoản phải trả, tài sản cố định hữu hình, .để so sánh với số liệu trong Báo cáo tài chính.
Việc phân tích đánh giá tình hình tài chính của khách hàng được dựa trên cơ sở nhiều năm (thường là 02 năm gần nhất), so sánh sự tăng giảm về số tuyệt đối, số tương SV: Nguyễn Thị Thanh Thúy Lớp: K43H4 Luan van Luận Văn Tốt Nghiệp 8 Khoa: Tài Chính - Ngân Hàng đối giữa các năm, từ đó rút ra những nhận xét về xu hướng tăng trưởng, phát triển và tính ổn định, an toàn. * Các chỉ tiêu tài chính sử dụng để phân tích, đánh giá Khi tiến hành phân tích, cần nghiên cứu, tham khảo, lựa chọn các chỉ tiêu sao cho phù hợp với điều kiện thực tế của từng khách hàng, từng lĩnh vực kinh doanh và từng địa bàn cụ thể. Các chỉ tiêu sau đây được tính toán trên cơ sở thông tin số liệu các khoản mục trên Bảng cân đối kế toán 1. Nhóm các chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán: Đây là nhóm chỉ tiêu được sử dụng để đánh giá tình trạng thanh khoản ngắn hạn của doanh nghiệp và là mối quan tâm hàng đầu trong kinh doanh của Ngân hàng thương mại Hệ số thanh toán ngắn hạn: Tài sản lưu động và đầu tư ngắn hạn (lầ Knh = Nợ ngắn hạn n) Chỉ tiêu này phản ánh khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo.
Knh > = 1 là đảm bảo khả năng thanh toán ngắn hạn. Trường hợp Knh < 1 sẽ đặt doanh nghiệp vào tình trạng gặp rủi ro về khả năng thanh khoản.