Luận án trình tự thủ tục cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước từ thực tiễn ngành giao thông vận tải ở việt nam hiện nay

Luận án phân tích trình tự, thủ tục cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, tập trung vào ngành giao thông vận tải tại Việt Nam hiện nay.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2023

177
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, nhằm đa dạng hóa chủ sở hữu, thu hút nguồn vốn và kinh nghiệm từ các nhà đầu tư. Quá trình này bắt đầu từ những năm 1990 với việc thí điểm chuyển đổi một số doanh nghiệp nhà nước thành công ty cổ phần. Thực tiễn cổ phần hóa đã khẳng định hiệu quả trong việc nâng cao sức cạnh tranh và hiện đại hóa nền kinh tế. Tuy nhiên, quá trình này cũng đặt ra nhiều thách thức, đặc biệt trong ngành giao thông vận tải Việt Nam, nơi các doanh nghiệp có cơ cấu tổ chức và tài chính phức tạp.

1.1. Khái niệm và mục tiêu cổ phần hóa

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần, nhằm đa dạng hóa chủ sở hữu và thu hút vốn đầu tư. Mục tiêu chính là nâng cao hiệu quả kinh tế, giảm gánh nặng ngân sách và cải thiện hệ thống tài chính công. Trong ngành giao thông vận tải, cổ phần hóa giúp tăng cường sự cạnh tranh và phát triển cơ sở hạ tầng.

1.2. Thực tiễn cổ phần hóa tại Việt Nam

Từ năm 1992, Việt Nam đã thực hiện thí điểm cổ phần hóa với Chỉ thị số 202/CT. Đến nay, quá trình này đã mở rộng sang các doanh nghiệp lớn trong các lĩnh vực then chốt như giao thông vận tải. Tuy nhiên, việc thực hiện còn gặp nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc xử lý tài sản đất đai và quản lý vốn nhà nước.

II. Quy trình cổ phần hóa

Quy trình cổ phần hóa bao gồm các bước từ chuẩn bị, đánh giá giá trị doanh nghiệp, đến phát hành cổ phiếu và chuyển đổi sang công ty cổ phần. Trong ngành giao thông vận tải, quy trình này đòi hỏi sự minh bạch và công khai, đặc biệt là trong việc đấu giá cổ phiếu. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều doanh nghiệp không bán được hết cổ phần theo phương án được phê duyệt, dẫn đến việc Nhà nước vẫn nắm giữ tỷ lệ vốn lớn.

2.1. Các bước trong quy trình cổ phần hóa

Quy trình cổ phần hóa bao gồm các bước chính: chuẩn bị phương án, đánh giá giá trị doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu và chuyển đổi sang công ty cổ phần. Trong ngành giao thông vận tải, việc đánh giá giá trị doanh nghiệp thường phức tạp do liên quan đến tài sản đất đai và cơ sở hạ tầng.

2.2. Thách thức trong quy trình cổ phần hóa

Một trong những thách thức lớn là việc xử lý tài sản đất đai, đặc biệt là khi đất được chuyển đổi mục đích sử dụng. Ngoài ra, việc thiếu các quy định cụ thể về giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm cũng làm chậm tiến trình cổ phần hóa.

III. Thực tiễn cổ phần hóa trong ngành giao thông vận tải

Ngành giao thông vận tải Việt Nam là một trong những lĩnh vực trọng điểm được ưu tiên cổ phần hóa. Tuy nhiên, quá trình này đặt ra nhiều thách thức do đặc thù của ngành, bao gồm cơ cấu tổ chức phức tạp và quy mô vốn lớn. Thực tiễn cổ phần hóa trong ngành này cho thấy sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định hiện hành.

3.1. Đặc thù của ngành giao thông vận tải

Ngành giao thông vận tải có đặc thù là quy mô vốn lớn và cơ cấu tổ chức phức tạp, bao gồm nhiều công ty mẹ - công ty con. Điều này làm cho quá trình cổ phần hóa trở nên khó khăn hơn, đặc biệt là trong việc đánh giá giá trị doanh nghiệp và xử lý tài sản đất đai.

3.2. Kết quả và hạn chế trong cổ phần hóa

Mặc dù đã có nhiều doanh nghiệp trong ngành giao thông vận tải được cổ phần hóa, nhưng kết quả chưa thực sự đáp ứng được mục tiêu đề ra. Nhiều doanh nghiệp không bán được hết cổ phần, dẫn đến việc Nhà nước vẫn nắm giữ tỷ lệ vốn lớn. Điều này làm hạn chế hiệu quả của quá trình cổ phần hóa.

IV. Giải pháp hoàn thiện quy trình cổ phần hóa

Để nâng cao hiệu quả của quy trình cổ phần hóa, cần hoàn thiện pháp luật và đưa ra các giải pháp cụ thể. Trong ngành giao thông vận tải, việc bổ sung các quy định về xử lý tài sản đất đai và nâng cao chất lượng tư vấn là rất cần thiết. Ngoài ra, cần có các quy định rõ ràng về giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong quá trình cổ phần hóa.

4.1. Hoàn thiện pháp luật

Cần bổ sung các quy định cụ thể về xử lý tài sản đất đai, đặc biệt là khi đất được chuyển đổi mục đích sử dụng. Ngoài ra, cần nâng cao chất lượng và trách nhiệm của các tổ chức tư vấn trong việc đánh giá giá trị doanh nghiệp và xác định giá khởi điểm.

4.2. Nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật

Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, cần có các quy định rõ ràng về giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm trong quá trình cổ phần hóa. Đồng thời, cần tăng cường sự minh bạch và công khai trong việc đấu giá cổ phiếu.

01/03/2025
Luận án trình tự thủ tục cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước từ thực tiễn ngành giao thông vận tải ở việt nam hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và pháp luật về trình tự, thủ tục cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận về cổ phần hóa DNNN và trình tự, thủ tục cổ phần hóa DNNN “Tư nhân hóa” được hiểu theo nghĩa rộng là “một quá trình chuyển đổi thay đổi sự cân bằng giữa bộ phận Nhà nước và bộ phận tư nhân cùng với các dịch vụ của DN thông qua các chính sách khác nhau” [86; 20]. Định nghĩa này khiến cho “tư nhân hóa” có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác. Kirkpatrick đề cập “tư nhân hóa” như một sự chuyển giao từ sự tham gia của Nhà nước đến tư nhân trong các hoạt động kinh tế, dẫn đến sự phát triển của khối DN tư nhân và sự tăng trưởng của thị trường [86; 21]. Khi trong đời sống kinh tế thế giới xuất hiện các mô hình KTTT trong các nền kinh tế chuyển đổi, ở các nước XHCN đã thường xuất hiện những bài viết về “tư nhân hóa”, CPH trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền KTTT.

Trên thực tế, doanh nghiệp nhà nước (SOE) là đối tượng chịu nhiều sự quản lý của luật pháp và quy định hành chính, cũng như phải chịu nhiều can thiệp không chính thức (ví dụ can thiệp chính trị). Cook và Kirkpatrick cho thấy can thiệp chính trị là nguyên nhân chính của thiếu hiệu quả đối với SOE [86; 24]. Họ chỉ ra rằng các nhà quản lý DN chủ yếu được bổ nhiệm chính trị với cực kỳ ít kinh nghiệm quản lý kinh doanh; nhiều quyết định quản lý quan trọng, ví dụ như vấn đề việc làm, giao dịch, và định giá tài sản đều có can thiệp chính trị. Can thiệp chính trị được thể hiện ra ở các khía cạnh như quá tải số lượng nhân viên, đánh giá thấp các mục tiêu chính, quy hoạch không hợp lý và đánh 11 giá tài sản dưới giá trị trên thị trường, tốn kém chi phí và mất tài sản Nhà nước.

"Tư nhân hoá" sẽ tái cơ cấu tổ chức quản lý và giảm bớt phạm vi can thiệp chính trị trong các quyết định, tuy nhiên ở khía cạnh nào đó vẫn còn tồn tại, nếu không thực hiện minh bạch. Từ tổng quan các nghiên cứu nước ngoài có thể thấy quá trình CPH DNNN đi đôi với cải cách quản trị DN sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động của các DN này, đặc biệt là những DN thuộc sở hữu Nhà nước. Nghĩa là, để CPH DNNN thành công và phát triển tốt hơn sau CPH thì DN CPH phải thay đổi được cách thức quản trị DNNN và thu hút được nhân lực có chất lượng cao tham gia quản trị DN. Trong trường hợp ngược lại, dù CPH đến mức nào đi nữa thì DN cũng không thay đổi được kết quả hoạt động và vẫn tồn tại trong tình trạng yếu kém.

Đối với quá trình CPH ở Việt Nam, khi đánh giá về hiệu quả hoạt động của các DN sau CPH, Truong Dong Loc, Ger Lanjouw và Robert Lensink sử dụng phương pháp so sánh trước và sau CPH và phương pháp khác biệt trong sự khác biệt (DID: Difference in Differences) để kiểm tra ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô và CPH ảnh hưởng tới 121 DN ở Việt Nam [97]. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự gia tăng lợi nhuận của DNNN sau CPH thực sự xuất phát từ chính mục đích và thực hiện tích cực, minh bạch quá trình CPH do một số nguyên nhân: Thứ nhất, sau khi CPH, Giám đốc DN buộc phải tập trung vào mục tiêu lợi nhuận DN, bởi vì họ là người phải chịu trách nhiệm trước cổ đông về tỷ lệ lợi tức trên vốn cổ phần [104]. Thứ hai, CPH giúp chuyển giao quyền kiểm soát DN từ các chính trị gia sang nhà quản trị chuyên nghiệp, điều này dẫn đến thay đổi chất lượng, kỹ năng quản trị DN và kỳ vọng dẫn tới gia tăng lợi nhuận nhờ áp dụng các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của DN thông qua cắt giảm chi phí lao động và các chi phí thấp, tránh được mất tài sản vô ích khác, điều mà trước đây các chính trị gia không thể thay đổi được để đảm bảo uy tín và vị trí của họ [82]. 12 Trong các công trình nghiên cứu về CPH, đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu của các học giả Trung Quốc: Thứ nhất, Tian Zhu với chủ đề: “Công cuộc vận động “công ty hoá” ở Trung Quốc: một sự đánh giá và những hệ quả về chính sách” (Trường đại học Khoa học và Kinh tế Hồng Kông) đã phân tích và đánh giá cuộc vận động công ty hoá ở Trung Quốc dựa trên những vấn đề bức xúc của khu vực KTNN [103].

Tác giả đã kết luận rằng, điều kiện quan trọng hàng đầu để tái cơ cấu thành công khu vực DNNN là phải có sự chuyển đổi cơ bản về sở hữu Nhà nước và tạo lập bộ máy quản lý có hiệu quả, điều đó dẫn đến việc đòi hỏi phải phát triển các thể chế thị trường của quốc gia, đặc biệt là các thị trường tài chính và hệ thống pháp luật. Thứ hai, Lý Trường Hải (1994) trong nghiên cứu về “Tìm tòi việc thí điểm cải cách chế độ cổ phần” đã đặt ra câu hỏi: làm thế nào để các xí nghiệp quốc doanh có thể chuyển đổi hoàn toàn cơ chế kinh doanh (Nhân dân nhật báo ngày 4/4/1994). Theo tác giả, theo đuổi mục tiêu xây dựng chế độ xã hội hiện đại mà Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra là phải cải cách xí nghiệp một cách sâu sắc mà chế độ CTCP (dụng ý chỉ sự cần thiết phải CPH DNNN) phải được coi là hình thức tổ chức chủ yếu của chế độ xã hội hiện đại. Quá trình thực hiện cải tổ kinh tế quốc doanh theo chế độ cổ phần trước hết phải làm tốt công tác bình xét đánh giá tài sản quốc hữu, không để thất thoát tài sản quốc hữu.

Thứ ba, Trịnh Phúc Viên (1995) trong nghiên cứu về “Những vấn đề khó khăn và viễn cảnh của công cuộc cải cách xí nghiệp quốc doanh ở Trung Quốc”, đã phân tích những tệ nạn kéo dài quá trình cải cách, những khó khăn gặp phải và những chính sách đổi mới của xí nghiệp quốc doanh ở Trung Quốc (Tạp chí nghiên cứu “Trung công”, Đài Loan, số 9/1995) [76]. Theo tác giả, việc chuyển đổi các xí nghiệp quốc doanh thành CTCP cần theo nguyên tắc: i) Các công ty sản xuất các sản phẩm đặc biệt và các xí nghiệp quốc phòng nên do một mình Nhà nước đầu tư KD; ii) Những xí nghiệp cốt cán trong các ngành trụ cột và ngành cơ sở Nhà 13 nước phải khống chế cổ phần và thu hút vốn tham gia cổ phần của các lực lượng ngoài quốc doanh; iii) Các CTCP trên thị trường chỉ chiếm số ít và Nhà nước tăng cường kiểm soát; iv) Các TCT thuộc ngành nghề có tính chất quốc gia phải từng bước cải tổ thành các CTCP khống chế. - “Cơ sở khoa học của việc chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần ở Việt Nam” (Đề tài khoa học cấp Nhà nước do Bộ Tài chính chủ trì). Công trình này đã đưa ra cơ sở lý luận của CPH DNNN cũng như một số điều kiện đặc thù của Việt Nam khi tiến hành CPH DNNN.

Với đề tài “Cổ phần hoá các DNNN ở Việt Nam”, Hoàng Công Thi, Phùng Thị Doan (1994, Viện Khoa học tài chính, NXB Thống kê) đã đề cập đến các nghiên cứu điển hình về quá trình CPH DNNN ở Việt Nam, trong đó nhấn mạnh các vấn đề trình tự, thủ tục liên quan đến vốn, tài sản, đất đai trong quá trình CPH. Nghiên cứu "Ảnh hưởng của cải cách doanh nghiệp Nhà nước tới sự phát triển khu vực phi Nhà nước ở Việt Nam" của CIEM (2000) đã chỉ ra những ảnh hưởng tích cực của việc đổi mới các DNNN đối với sự phát triển khu vực phi Nhà nước. Các tác giả đã khảo sát, điều tra ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, bao gồm (i) tạo cơ chế cạnh tranh bình đẳng giữa DNNN và DN không phải Nhà nước, (ii) tạo điều kiện thúc đẩy, hỗ trợ DN phi Nhà nước mở rộng thị trường, nâng cao năng lực sản xuất; Tuy nhiên, (i) việc phát triển quá mạnh đầu tư Nhà nước ở các DNNN trong một số ngành nghề có thể "lấn át" đầu tư tư nhân, (ii) vẫn còn tư tưởng "ưu tiên" DNNN so với các DN phi Nhà nước ở một số địa phương dẫn đến các chính sách ưu đãi đầu tư đều hướng tới các DNNN, không phải DN phi Nhà nước. Cuốn sách “Cổ phần hóa - giải pháp quan trọng trong cải cách doanh nghiệp Nhà nước” của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển DN đã đề cập đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyết tâm đổi mới DNNN thông qua CPH DNNN, và đưa ra một số đánh giá quá trình CPH ở Việt 14 Nam.

Phan Đức Hiếu (2003, NXB Tài chính), cuốn “Cải cách doanh nghiệp Nhà nước” với trọng tâm nghiên cứu các mô hình đổi mới hoạt động của DNNN, gồm các nội dung chính sau: Sắp xếp lại, CPH DNNN; chuyển DNNN thành CTCP, Công ty TNHH MTV; Giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê DNNN. Cuốn sách không đề cập đến công tác QLNN về CPH. Với chủ đề “Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước: những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Lê Hồng Hạnh (2004, NXB Chính trị Quốc gia) nghiên cứu tình hình DNNN ở các quốc gia và xu thế cải cách DNNN, những vấn đề lý luận và thực tiễn về DNNN ở Việt Nam, về CPH DNNN, hoàn thiện nền tảng pháp lý cho CPH DNNN, đặc biệt là trình tự, thủ tục pháp lý về cổ phần hóa DNNN Khi luận giải về lý luận và thực tiễn CPH DNNN, tác giả đã đi sâu phân tích những tác động của CPH DNNN: Một là, CPH có tác động làm cho sở hữu trong DN trở nên đa dạng hơn. Vì vậy, nó giải quyết được khá triệt để vấn đề sở hữu trong DNNN vốn gây ra những vướng mắc về hiệu quả và sự kém năng động trong SXKD Hai là, CPH có tác dụng trong việc xã hội hoá tư liệu sản xuất trong các DN có sở hữu một chủ, góp phần thu hút đầu tư của các thành phần xã hội vào sản xuất, kinh doanh đối với DN sau khi cổ phần hóa.

Ba là, CPH tạo cho những người lao động cơ hội thực sự làm chủ DN nếu như người lao động muốn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quy trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: Thực tiễn ngành giao thông vận tải Việt Nam" cung cấp cái nhìn chi tiết về quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực giao thông vận tải, một chủ đề quan trọng trong bối cảnh cải cách kinh tế tại Việt Nam. Tài liệu phân tích các bước thực hiện, thách thức và bài học kinh nghiệm từ thực tiễn, giúp độc giả hiểu rõ hơn về cách thức chuyển đổi mô hình quản lý và tác động của nó đến hiệu quả hoạt động. Đây là nguồn thông tin hữu ích cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và những người quan tâm đến lĩnh vực giao thông vận tải.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế biện pháp hoàn thiện công tác quản lý phí tại sở giao thông vận tải hải phòng, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh giải pháp hoàn thiện công tác quản trị nguồn nhân lực tại sở giao thông vận tải bến tre, và Luận văn thạc sĩ tìm hiểu thực trạng khai thác mạng thông tin đường sắt việt nam đề xuất phương án khai thác mạng có hiệu quả. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về quản lý và phát triển trong ngành giao thông vận tải.