Chương 1 - GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ MẠNG THÔNG TIN ĐƯỜNG SẮT VIỆT NAM 1.1 Tổng quan về đường sắt Việt nam 1.1 Mạng lưới Đường sắt Mạng lưới Đường sắt Việt Nam với tổng chiều dài 2.600 km nối liền các khu dân cư, trung tâm văn hoá nông nghiệp và công nghiệp trừ khu vực đồng bằng sông Cửu Long. Đường sắt Việt Nam nối liền với đường sắt Trung Quốc qua hai hướng: Với Vân Nam Trung Quốc qua tỉnh Lào Cai Với Quảng Tây Trung Quốc qua tỉnh Lạng Sơn Đường sắt Việt Nam cũng có tiềm năng nối liền với mạng lưới Đường sắt Campuchia, Thái Lan và Malaysia để đến Singapore và tuyến đường sắt của Lào khi được phát triển, xem hình 1. Đường sắt Việt Nam đang sử dụng ba loại khổ đuờng, đó là loại đuờng 1.000 mm, đuờng tiêu chuẩn (1.435 mm) và đuờng lồng (chung cả 1. Chiều dài của các đuờng chính tuyến của mạng lưới đường sắt Việt Nam cùng với khổ đuờng được trình bày trong bảng 1.2 Vận tải hành khách a.Các loại tầu khách Đường sắt Việt Nam hiện có các loại tàu khách sau: - Tầu Liên vận quốc tế - Tầu khách nhanh và đặc biệt nhanh - Tầu khách thường và tầu hỗn hợp.
Số đôi tầu khách chạy hàng ngày trên tæàn mạng Tầu khách Thống nhất Hàng ngày giữa Hà Nội và TP Hồ Chí Minh có: - 1 đôi tàu đặc biệt nhanh E1/2 hành trình 30 giờ đỗ nhận hành khách tại các ga Hà z 15 Nội, Vinh, Đồng Hới, Huế, Đà Nẵng, Diêu Trì, Nha Trang, Mương Mán, Sài Gòn - 1 đôi tầu nhanh S1/2 hành trình 32 giờ đỗ nhận hành khách tại các ga Hà Nội, Nam Định, Thanh Hóa, Vinh, Đồng Hới, Đông Hà, Huế, Đà Nẵng, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Diêu Trì, Tuy Hòa, Nha Trang, Tháp Chàm, Sài Gòn. - 1 đôi tầu S3/4 41 giờ đỗ nhận chở hành khách tại các ga: Hà Nội, Phủ Lý, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Vinh, Hương Phố, Đồng Lê, Đồng Hới, Đông Hà, Huế, Đà Nẵng, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Diêu Trì, Tuy Hoà, Nha Trang, Tháp Chàm, Mương Mán, Sài Gòn. - 1 đôi tầu S5/6, 41 giờ đỗ nhận chở hành khách tại các ga: Hà Nội, Phủ lý, Nam Định, Ninh Bình, Thanh Hoá, Vinh, Yên Trung, Hương Phố, Đồng Lê, Đồng Hới, Đông Hà, Huế, Đà Nẵng, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Diêu Trì, Tuy Hoà, Nha Trang, Tháp Chàm, Mương Mán, Sài Gòn. - 1 đôi tầu S7/8 hành trình 41 giờ đỗ nhận chở hành khách tại các ga: Hà Nội, Phủ Lý, Nam Định, Ninh Bình, Bỉm Sơn, Thanh Hoá, Vinh, Đồng Lê, Đồng Hới, Đông Hà, Huế, Đà Nẵng, Tam Kỳ, Quảng Ngãi, Diêu Trì, Tuy Hoà, Nha Trang, Tháp Chàm, Mương Mán, Sài Gòn.
- Ngoài ra còn 1 đôi tầu LH2/3 hành trình 25 giờ chạy cách nhật từ Huế đến Sài Gòn và ngược lại, đỗ nhận khách tại các ga: Huế, Lăng Cô, Đà Nẵng, Trà Kiệu, Tam Kỳ, Núi Thành, Quảng Ngãi, Đức Phổ, Bồng Sơn, Diêu Trì, Tuy Hoà, Ninh Hoà, Nha Trang, Tháp Chàm, Mương Mán, Long Khánh, Sài Gòn. Tầu khách địa phương Tuyến Yên Viên - Hạ Long Hàng ngày chạy 1 đôi tầu tiêu chuẩn 2157/2158 giữa Yên Viên - Hạ Long và ngược lại. Tuyến Hà Nội - Hải Phòng Hàng ngày chạy 5 đôi trong đó có 1 đôi HP1/ HP2 chạy từ Hà Nội đến Hải Phòng và ngược lại, 3 đôi tầu chạy từ Long Biên đến Hải Phòng và ngược lại, 1 đôi tầu chạy từ Gia Lâm đi Hải phòng và ngược lại.1: Sơ đồ mạng lưới đường sắt Việt nam z 17 Tuyến chÝnh Chiều dài Khổ đuờng Hà Nội - TP Hồ Chí Minh 1.000 mm Hà Nội - Hải Phòng 102 1.000 mm Hà Nội - Lào Cai 296 1.000 mm Hà Nội - Đồng Đăng 162 Đường lồng (1.000 mm) Hà Nội - Quán Triều 75 Đường lồng (1.000 mm) Kép - Uông Bí - Hạ Long 106 1.1 Chiều dài của các tuyến đuờng chính của mạng lưới đường sắt Việt Nam Đường chính và đuờng nhánh 2.600 km Trong đó: - Đường khổ 1.169 km - Đường khổ 1.435 mm 178 km - Đường lồng 253 km Đường tránh và đuờng nhánh 506 km Tổng cộng 3.2: Chiều dài của các loại đuờng Tuyến Hà Nội - Lào Cai Chạy 5 đôi tầu trong đó có 2 đôi LC1/2, LC3/4 đi từ Hà Nội đến Lào Cai và ngược lại. Tầu LC1 chạy Hà Nội ngày thứ 6, Chủ nhật và tầu LC4 chạy Lào Cai các ngày thứ 7, thứ 2 hàng tuần có nối cụm xe liên vận đi Côn Minh và ngược lại, z 18 1 đôi tầu YB1/2 từ ga Long Biên đến ga Yên Bái và ngược lại, 1 đôi tầu YL1/2 từ ga Yên Bái đến ga Lào Cai và ngược lại.
Ngoài ra, có tầu LC5 chạy tại ga Hà Nội các ngày thứ 2, thứ 4, thứ 6. Tầu LC6 chạy taị ga Lào Cai vào ngày Chủ nhật. Tuyến Hà Nội - Đồng Đăng Hàng ngày chạy 3 đôi trong đó có 1 đôi ĐĐ3/4 chạy từ ga Hà Nội đến Đồng Đăng và ngược lại, đôi tầu Liên vận M1/2 chạy từ ga Hà Nội ngày thứ 3, thứ 6 đi Bắc kinh và tầu M2 từ Bắc kinh về Hà Nội vào ngày thứ 4 và Chủ nhật, 1 đôi tầu HĐ3/4 chạy từ ga Gia Lâm đến ga Đồng Đăng và ngược lại. Tuyến Hà Nội - Quán Triều Hàng ngày chạy 1 đôi tầu T91/92 từ ga Long Biên đến ga Quán triều và ngược lại.
Tuyến Hà Nội - Thanh Hoá - Vinh Hàng ngày chạy 3 đôi, trong đó 2 đôi V1/2, V3/4 chạy từ ga Hà Nội đến ga Vinh và ngược lại, 1 đôi TH1/2 chạy từ ga Giáp Bát đến Thanh Hoá và ngược lại. Tuyến Vinh - Đồng Hới Hàng ngày chạy 1 đôi tầu VĐ1/2 từ ga Vinh đến ga Đồng Hới và ngược lại. Tuyến Đồng Hới - Quy Nhơn Hàng ngày chạy 1 đôi 163/164 từ ga Đồng Hới đến ga Huế và ngược lại, 2 đôi 165/166 và ĐH1/2 từ ga Huế đến ga Đà Nẵng và ngược lại, 1 đôi 171/172 từ ga Đà Nẵng đến ga Diêu Trì và ngược lại, 1 đôi ĐQ1/2 chạy cách 3 ngày từ ga Đồng Hới đến ga Quy Nhơn và ngược lại. Tuyến Tuy Hoà - Nha Trang - Sài Gòn Hàng ngày chạy 1 đôi NT9/10 từ ga Nha Trang đến ga Tuy Hoà và ngược lại, 1 đôi SN1/2 từ ga Nha Trang đến ga Sài Gòn và ngược lại.3 Nhận xét về sự phát triển của vận tải đường sắt Việt nam Như trên ta thấy hiện nay mạng giao thông đường sắt Việt nam đã nối liền với đường sắt Trung Quốc, trong tương lai gần sẽ kết nối với mạng đường sắt Đông Nam Á.
Đường sắt Viết nam cũng đã có đề án xây dựng hệ thống đường sắt z 19 trên cao nội đô, xây dựng tuyến đường sắt cao tốc Hà Nội - Sài gòn, điều này sẽ mở ra nhiều hướng phát triển cho ngành vận tải đường sắt trong tương lai. Để có những bước phát triển đó thì cơ sơ hạ tầng phải phát triển, trong đó Hạ tầng mạng Thông tin đường sắt là một tất yếu. Mạng thông tin đường sắt Việt Nam Hiện nay trong mạng thông tin đường sắt Việt Nam đang sử dụng cả hai loại hình thiêt bị thông tin tương tự và thông tin số (xem hình 1. Loại hình thiết bị tương tự hầu hết là các thiết bị của Trung Quốc, Hung ga ri được sản xuất và trang bị từ những thập niên 70.
Loại hình thiết bị số trước năm 2005 chủ yếu là các tổng đài số phục vụ cho mạng thông tin hành chính, các đường trung kế là các luồng số E1 thuê của Viettel ( công ty Viễn thông Quân đội) và của VTN ( Tổng công ty viễn thông Việt nam). Từ giữa năm 2006 đường sắt Việt nam đã lắp đặt song và đưa vào khai thác mạng thông tin số với hệ thống đường trục cáp quang, sử dụng công nghệ truyền dẫn đồng bộ SDH tuyến Hà nội - Vinh, là một tuyến trong dự án xây dựng và số hóa toàn bộ mạng thông tin đường sắt thành một mạng hiện đại đang được triển khai. Ứng dụng mạng thông tin trong ngành đường sắt có thể chia thành các loại hình mạng thông tin sau: -Mạng thông tin chuyên dụng: + Mạng thông tin điều độ và dưỡng lộ cầu đường, thông tin +Mạng thông tin điện thoại tập trung trong ga, điện thoại đường ngang, gác ghi. - Mạng thông tin hành chính các ga.
+ Hệ thống điện báo, điện thoại hội nghị Cung cấp các dịch vụ cho các loại hình mạng thông tin trên là hệ thống các tổng đài và hệ thống thiết bị truyền dẫn thông tin.1 Loại hình thiết bị tương tự 1.Mạng thông tin Điều độ a.Công tác điều độ z 20 Trên cơ sở hạ tầng sẵn có những người làm công tác điều độ sẽ lên phương án chạy tần thông qua lập biểu đồ chạy tàu (BĐCT) kế hoạch trong năm, trong quí, trong tháng và trong ngày. Trong ngày 24/24 giờ mỗi một tuyến đều có điều độ viên, điều độ viên thông qua biểu đồ kế hoạch chạy tàu trong ngày chỉ huy tác nghiệp toàn bộ các đoàn tàu, các ga tuyến mà mình quản lý, xem phụ lục 15. Qua mạng thông tin điều độ, trực ban tại các ga sẽ nhận được các lệnh từ trung tâm điều độ của tuyến mình, đồng thời báo cáo quá trình hoạt động, thời gian tàu đến, đỗ, đi, trở ngại nếu có.của ga mình cho trung tâm Điều độ. Thông qua các thông tin nhận được từ ga điều độ viên trong quá trình điều hành và theo dõi sẽ vẽ biểu đồ gọi là biểu đồ thực tế.
Thông qua biểu đồ thực tế và dựa vào biểu đồ kế hoạch, điều độ viên sẽ đưa ra các lệnh điều hành cho trực ban mỗi ga và nắm bắt được toàn bộ hoạt động của các đoàn tàu, tình trạng các ga trên tuyến mình quản lý.Mạng thông tin điều độ trên tuyến Mạng thông tin điều độ sử dụng loại tổng đài chọn số âm tần, tổng đài nối với tất các máy con (máy điện thoại chọn số âm tần) trên cùng một đôi dây. Phần lớn các thiết bị mạng được trang bị từ năm 1975. Đôi dây Tổng đài chọn số 1 2 3 âm tần Máy điện thoại Phân cơ chọn số Hình 1.2: Sơ đồ mạng thông tin chọn tần Tổng đài thường được đặt tại trung tâm điều độ, các máy con và phân cơ đấu song song với nhau đặt tại các phòng trực ban các ga. Khi điều độ viên muốn gọi cho ga nào đó, thì sẽ ấn nút tương ứng với ga đó.
Khi này một cặp mã hiệu (xem bảng 1.3) gồm hai tần số âm tần được gán riêng cho ga đó sẽ phát trên đường dây tới phân cơ của ga, duy nhất phân cơ của ga đổ chuông nhờ mạch khuyếch đại z 21 chọn tần, báo cho trực ban biết, khi này trực ban nhấc tổ hợp kín mạch thoại.