Phần mở đầu: Tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu, đối tƣợng, phạm vi và ý nghĩa của đề tài Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và Tổng quan Chƣơng 2: Khái quát về đặc trƣng của địa bàn nghiên cứu Chƣơng 3: Kết quả nghiên cứu và bàn luận Kết luận và khuyến nghị 7 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN 1.1 Những khái niệm về BĐKH - Biến đổi khí hậu (climate change) Trong những năm qua nhiều nơi trên thế giới đã phải chịu nhiều thiên tai nguy hiểm nhƣ bão lớn, nắng nóng dữ dội, lũ lụt, hạn hán và khí hậu khắc nghiệt gây thiệt hại lớn về tính mạng con ngƣời và vật chất. Đặc biệt ngày 13/11/ 2013, WMO đã công bố báo cáo thống kê các hiện tƣợng thời tiết cực đoan năm 2013 trong đó kết luận năm nay là năm nóng nhất kể từ năm 1850; mực nƣớc biển dâng trung bình là 3,2mm mỗi năm, cao gấp đôi so với năm 1993. BĐKH sự thay đổi của khí hậu đƣợc quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con ngƣời làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh đƣợc [Công ƣớc khí hậu - UNFCCC, 1992]. BĐKH là sự biến đổi về trạng thái của hệ thống khí hậu, có thể đƣợc nhận biết qua sự biến đổi về trung bình và biến động của các thuộc tính của nó, đƣợc duy trì trong một thời gian dài, điển hình là hàng thập kỷ hoặc dài hơn.
BĐKH có thể do các quá trình tự nhiên bên trong hệ thống khí hậu hoặc do tác động thƣờng xuyên của con ngƣời, đặc biệt tăng hiệu ứng nhà kính làm thay đổi thành phần cấu tạo của khí quyển [IPCC, 2007]. Biến đổi khí hậu còn đƣợc quan niệm là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thƣờng là vài thập kỷ hoặc dài hơn (Bộ TN&MT, 2008). 8 - Tính dễ bị tổn thƣơng (vulnerability) Tính dễ bị tổn thƣơng là mức độ mà BĐKH có thể gây tổn hại hay bất lợi cho hệ thống; khi đó tính dễ bị tổn thƣơng không chỉ phụ thuộc vào độ nhạy của hệ thống mà còn phụ thuộc vào khả năng thích ứng của cộng đồng với điều kiện khí hậu mới. Định nghĩa này bao gồm sự lộ diện, tính nhạy, khả năng phục hồi của hệ thống để chống lại các mối nguy hiểm do ảnh hƣởng của BĐKH [IPCC, 1996].
- Ứng phó (response) với biến đổi khí hậu Ứng phó với BĐKH là các hoạt động của con ngƣời nhằm thích ứng và giảm nhẹ BĐKH. Nhƣ vậy ứng phó với BĐKH gồm hai hợp phần chính là thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH. Thích ứng (adaptation) với BĐKH là sự điều chỉnh hệ thống tự nhiên hoặc KT - XH đối với hoàn cảnh hoặc môi trƣờng thay đổi, nhằm mục đích giảm khả năng bị tổn thƣơng do dao động và BĐKH hiện hữu hoặc tiềm tàng và tận dụng các cơ hội do nó mang lại. Giảm nhẹ (mitigation) BĐKH là các hoạt động nhằm giảm mức độ hoặc cƣờng độ phát thải KNK.
- Xây dựng năng lực (capacity building) Xây dựng năng lực trong bối cảnh BĐKH là quá trình phát triển các kỹ năng công nghệ và những năng lực thể chế ở các nƣớc đang phát triển và các nền kinh tế chuyển đổi để giúp họ có thể tham gia vào tất cả các lĩnh vực: thích ứng, giảm nhẹ và nghiên cứu về BĐKH nhằm thực hiện Công ƣớc Khung của Liên Hợp Quốc về BĐKH (UNFCCC) và Nghị định thƣ Kyoto (KP) [Trƣơng Quang Học, 2011].2 Tính hệ thống và liên ngành của nghiên cứu và triển khai về BĐKH BĐKH mà trƣớc hết là sự nóng lên toàn cầu có nguyên nhân là do các quá trình tự nhiên và sự tác động của con ngƣời. Trong quá khứ BĐKH là do các nguyên nhân tự nhiên. Hiện nay BĐKH có nguyên nhân là do hoạt động của con ngƣời. 9 Theo IPCC trong Báo cáo đánh giá lần thứ tƣ “sự nóng lên của hệ khí hậu là điều không còn phải hoài nghi” thì hàm lƣợng CO2 đến cuối thế kỷ 21 có thể vƣợt quá những gì đã từng xảy ra trên hành tinh chúng ta trong hàng chục triệu năm qua [IPCC, 2007].
BĐKH tác động lên tất cả các thành phần môi trƣờng bao gồm cả các lĩnh vực của môi trƣờng tự nhiên, môi trƣờng xã hội và sức khỏe con ngƣời trên phạm vi toàn cầu. Tuy nhiên, mức độ tác động của BĐKH có khác nhau: nghiêm trọng ở các vùng có vĩ độ cao và ít hơn tại các vùng khác, sẽ lớn hơn ở các nƣớc nhiệt đới, nhất là các nƣớc đang phát triển công nghiệp nhanh ở châu Á. Trong đó, những ngƣời nghèo, những ngƣời ít góp phần gây ra BĐKH nhất thì lại phải chịu những thiệt hại sớm nhất và nghiêm trọng nhất về phát triển con ngƣời do BĐKH gây ra (Crutzen, 2005). Theo báo cáo tổng hợp “Biến đổi khí hậu 2001” của IPCC, chiến lƣợc giảm nhẹ BĐKH cũng nhƣ chiến lƣợc thích ứng đều là hợp phần của chính sách ứng phó với BĐKH.
Do đó, nghiên cứu đánh giá tác động của BĐKH, nguy cơ tổn thƣơng nhằm có giải pháp ứng phó kịp thời là rất cần thiết. Để thích ứng với BĐKH trƣớc hết phải xác định đƣợc tác động của BĐKH sẽ gây ảnh hƣởng nhƣ thế nào đối với từng đối tƣợng cụ thể cho từng địa phƣơng cụ thể. Việc xác định nguyên nhân và đối tƣợng càng chính xác bao nhiêu thì công tác ứng phó với BĐKH (nhằm thích ứng và giảm nhẹ BĐKH) càng hiệu quả bấy nhiêu. BĐKH, tác động và ứng phó với nó là một quá trình phức tạp và đƣợc chia thành 7 pha kế tiếp nhau bao gồm: i) Pha 1: Hoạt động KT - XH và phát thải KNK; Pha 2: Chu kỳ cácbon và nồng độ KNK trong khí quyển; Pha 3: Sự ấm lên toàn cầu/BĐKH; Pha 4: Tác động của BĐKH tới các hệ sinh thái (HST) và xã hội; Pha 5: Thích ứng với BĐKH; Pha 6: Giảm nhẹ BĐKH; và Pha 7: Thay đổi hệ thống xã hội và lối sống [IPCC, 2007, 2011].
Sơ đồ mối tƣơng tác của BĐKH và các hợp phần của hệ sinh thái-nhân văn(A); và Khung các vấn đề của BĐKH (B) Nguồn: IPCC, 2007 Vì vậy, nghiên cứu - triển khai về BĐKH cần phải có tính hệ thống và liên ngành nhằm hƣớng tới ba mục tiêu chính: Một là, đánh giá BĐKH cả về bản chất, nguyên nhân và cơ chế vật lý; Hai là, đánh giá tác động của BĐKH, tính dễ bị tổn thƣơng do BĐKH và đề xuất các giải pháp thích ứng và; Ba là, đề xuất kế hoạch hành động nhằm giảm thiểu BĐKH. Ba nhiệm vụ này là một quá trình logic không đồng thời và phải đƣợc thực hiện một cách tuần tự. Ở quy mô ngành GTVT, BĐKH và NBD đã có những tác động tiêu cực đến nhiều lĩnh vực tự nhiên, kinh tế, xã hội, môi trƣờng không chỉ trong phạm vi các tuyến đƣờng mà ảnh hƣởng tới cả khu vực. Luận văn này thực hiện với mục đích làm rõ đƣợc vấn đề khí hậu đã và sẽ biến đổi nhƣ thế nào, từ đó đánh giá đƣợc tác động của BĐKH làm cơ sở cho việc đề xuất kế hoạch thích ứng với BĐKH và giảm nhẹ BĐKH góp phần xây dựng các tuyến quốc lộ hƣớng tới mục tiêu phát triển bền vững.
Tổng quan tài liệu 1. Nghiên cứu trên thế giới BĐKH đã có một lịch sử nghiên cứu tƣơng đối dài, từ những thập kỷ đầu của thế kỷ 18: năm 1824, nhà vật lý học ngƣời Pháp Joseph Fourier đã miêu tả hiện 11 tƣợng “hiệu ứng nhà kính”; năm 1896, nhà hóa học ngƣời Thụy Điển, Svante Arhenius đã kết luận rằng sự đốt cháy nhiên liệu hóa thạch sẽ làm tăng hiệu ứng nhà kính và gây ra hiện tƣợng nóng lên toàn cầu [ Trƣơng Quang Học – chủ biên, 2011]. Kể từ năm 1990 trở lại đây, trên thế giới đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về tác động của BĐKH đối với mọi mặt của tự nhiên, xã hội. Đối với ngành GTVT đƣờng bộ, một số nghiên cứu về tác động của BĐKH bao gồm: Galbraith, Price và Shackman (2005) trong công trình nghiên cứu giai đoạn 2 của Scotland về các sự kiện thời tiết cực đoan đã xảy ra và việc đƣa chúng vào công tác thiết kế, khai thác mạng lƣới đƣờng bộ “Scottish road network climate change study” đã nghiên cứu các tác động của BĐKH với các kịch bản cho các năm 2020, 2050, 2080 cho GTVT tại Scotland, đề xuất các giải pháp về thiết kế, khai thác và chính sách thích ứng.
Ban nghiên cứu GTVT Anh (2011) trong tác phẩm “Adapting transportation to the impacts of climate change” đã nghiên cứu tổng quan về thích ứng của ngành GTVT đối với các tác động của BĐKH tại Vƣơng quốc Anh. Tài liệu đƣa ra các điển hình về rủi ro và dễ bị tổn thƣơng, các vấn đề phải đối mặt của của các cơ quan quản lý nhà nƣớc trong việc quy hoạch GTVT, đô thị trƣớc tác động của BĐKH. Maunsell (2008) với báo cáo “Impact of climate change on Australia’s road and bridge infrastructure”: đã đề ra 7 kịch bản BĐKH và tác động của chúng tới hệ thống cơ sở hạ tầng cầu đƣờng bộ Australia. Báo cáo cũng chỉ ra cơ hội và giải pháp thích ứng với BĐKH.
Kinsella và McGuire (2008) trong công trình “Climate change uncertainty and the state highway network: A moving target” đã chỉ ra các tác động tiềm tàng của BĐKH đối với quy hoạch, xây dựng và duy trì mạng lƣới đƣờng cao tốc New 12 Zealand; đƣa ra ba giải pháp thích ứng thông qua sàng lọc cho các tuyến đƣờng là giải pháp không làm gì cả, giải pháp tăng cƣờng khả năng chống chịu cho các công trình (cầu, cống) cho các BĐKH trong tƣơng lai, giải pháp xây dựng mới các công trình GTVT đã xem xét các yếu tố BĐKH đến năm 2080. Ban nghiên cứu GTVT Mỹ (2008) trong công trình “Potential impacts of climate change on U. Transportation” đã nghiên cứu các tác động tiềm tàng của BĐKH đối với ngành GTVT Mỹ; các giải pháp thích ứng bao gồm giải pháp tăng cƣờng năng lực ứng phó với các hiện tƣợng thời tiết cực đoan; giải pháp cảnh báo sớm bằng công nghệ và chƣơng trình quan trắc; giải pháp chia sẻ kinh nghiệm đã thực hiện; giải pháp thay đổi thiết kế; giải pháp về kế hoạch vận tải và sử dụng đât; giải pháp mua bảo hiểm; giải pháp về chính sách, phƣơng thức vận tải mới.