Luận án tiến sĩ trình tự thủ tục cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước từ thực tiễn ngành giao thông vận tải ở việt nam hiện nay

Luận án tiến sĩ phân tích trình tự thủ tục cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, tập trung vào thực tiễn ngành giao thông vận tải tại Việt Nam.

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ luật học

2023

177
4
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là một quá trình quan trọng trong việc đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước. Quá trình này nhằm đa dạng hóa chủ sở hữu, thu hút vốn đầu tư và kinh nghiệm quản lý từ các nhà đầu tư. Ngành giao thông vận tải là một trong những lĩnh vực then chốt được ưu tiên thực hiện cổ phần hóa. Từ năm 1992, Việt Nam đã bắt đầu thí điểm cổ phần hóa với các doanh nghiệp nhà nước, và đến nay, quá trình này đã được mở rộng sang các doanh nghiệp lớn, có khả năng sinh lời cao.

1.1. Khái niệm và mục tiêu cổ phần hóa

Cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước là quá trình chuyển đổi từ doanh nghiệp nhà nước sang công ty cổ phần, nhằm tăng hiệu quả kinh tế, giảm gánh nặng ngân sách và cải thiện hệ thống tài chính công. Mục tiêu chính của cổ phần hóa là thu hút vốn đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Trong ngành giao thông vận tải, cổ phần hóa giúp hiện đại hóa cơ sở hạ tầng và nâng cao chất lượng dịch vụ.

1.2. Lịch sử và thực tiễn cổ phần hóa tại Việt Nam

Từ năm 1992, Việt Nam đã thực hiện thí điểm cổ phần hóa với các doanh nghiệp nhà nước. Đến nay, quá trình này đã được mở rộng sang các doanh nghiệp lớn trong các lĩnh vực then chốt như ngân hàng, bảo hiểm, viễn thông và giao thông vận tải. Tuy nhiên, việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải gặp nhiều thách thức do cơ cấu tổ chức và tài chính phức tạp.

II. Quy trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước

Quy trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước bao gồm các bước từ chuẩn bị, đánh giá giá trị doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu đến hoàn tất thủ tục pháp lý. Trong ngành giao thông vận tải, quy trình này đòi hỏi sự minh bạch và công khai để đảm bảo hiệu quả và công bằng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy nhiều bất cập trong việc xử lý tài sản, đất đai và định giá doanh nghiệp.

2.1. Các bước thực hiện cổ phần hóa

Quy trình cổ phần hóa bao gồm các bước chính: chuẩn bị hồ sơ, đánh giá giá trị doanh nghiệp, phát hành cổ phiếu và hoàn tất thủ tục pháp lý. Trong ngành giao thông vận tải, việc đánh giá giá trị doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn do cơ cấu tài chính phức tạp và sự phụ thuộc vào tài sản đất đai.

2.2. Thách thức trong quy trình cổ phần hóa

Quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải đặt ra nhiều thách thức, bao gồm việc xử lý tài sản đất đai, định giá doanh nghiệp và đảm bảo tính minh bạch trong phát hành cổ phiếu. Những bất cập này làm chậm tiến trình cổ phần hóa và ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình này.

III. Thực tiễn cổ phần hóa trong ngành giao thông vận tải

Thực tiễn cổ phần hóa trong ngành giao thông vận tải tại Việt Nam cho thấy nhiều kết quả tích cực, nhưng cũng không ít thách thức. Việc cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong ngành này đã giúp thu hút vốn đầu tư và nâng cao hiệu quả hoạt động. Tuy nhiên, quá trình này cũng gặp phải nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc xử lý tài sản đất đai và đảm bảo tính minh bạch.

3.1. Kết quả đạt được

Cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải đã giúp thu hút vốn đầu tư, nâng cao hiệu quả hoạt động và hiện đại hóa cơ sở hạ tầng. Điển hình là việc cổ phần hóa thành công Bệnh viện Giao thông vận tải Trung ương, mở ra hướng đi mới cho các đơn vị sự nghiệp công lập.

3.2. Những thách thức còn tồn tại

Quá trình cổ phần hóa trong ngành giao thông vận tải vẫn gặp nhiều thách thức, bao gồm việc xử lý tài sản đất đai, định giá doanh nghiệp và đảm bảo tính minh bạch trong phát hành cổ phiếu. Những bất cập này làm chậm tiến trình cổ phần hóa và ảnh hưởng đến hiệu quả của quá trình này.

IV. Giải pháp hoàn thiện quy trình cổ phần hóa

Để hoàn thiện quy trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước trong ngành giao thông vận tải, cần có các giải pháp đồng bộ từ việc sửa đổi chính sách, nâng cao năng lực quản lý đến đảm bảo tính minh bạch trong quá trình thực hiện. Các giải pháp này nhằm khắc phục những bất cập hiện tại và thúc đẩy quá trình cổ phần hóa đạt hiệu quả cao hơn.

4.1. Sửa đổi chính sách và pháp luật

Cần sửa đổi các quy định pháp luật liên quan đến cổ phần hóa, đặc biệt là các quy định về xử lý tài sản đất đai và định giá doanh nghiệp. Việc này sẽ giúp tạo ra một khung pháp lý minh bạch và hiệu quả hơn cho quá trình cổ phần hóa.

4.2. Nâng cao năng lực quản lý

Nâng cao năng lực quản lý của các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp trong quá trình cổ phần hóa là yếu tố quan trọng để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả. Điều này bao gồm việc đào tạo nhân lực và áp dụng các công nghệ quản lý hiện đại.

01/03/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu về cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước và pháp luật về trình tự, thủ tục cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước 1.1 Nhóm các công trình nghiên cứu lý luận về cổ phần hóa DNNN và trình tự, thủ tục cổ phần hóa DNNN “Tư nhân hóa” được hiểu theo nghĩa rộng là “một quá trình chuyển đổi thay đổi sự cân bằng giữa bộ phận Nhà nước và bộ phận tư nhân cùng với các dịch vụ của DN thông qua các chính sách khác nhau” [86; 20]. Định nghĩa này khiến cho “tư nhân hóa” có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác. Kirkpatrick đề cập “tư nhân hóa” như một sự chuyển giao từ sự tham gia của Nhà nước đến tư nhân trong các hoạt động kinh tế, dẫn đến sự phát triển của khối DN tư nhân và sự tăng trưởng của thị trường [86; 21]. Khi trong đời sống kinh tế thế giới xuất hiện các mô hình KTTT trong các nền kinh tế chuyển đổi, ở các nước XHCN đã thường xuất hiện những bài viết về “tư nhân hóa”, CPH trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền KTTT.

Trên thực tế, doanh nghiệp nhà nước (SOE) là đối tượng chịu nhiều sự quản lý của luật pháp và quy định hành chính, cũng như phải chịu nhiều can thiệp không chính thức (ví dụ can thiệp chính trị). Cook và Kirkpatrick cho thấy can thiệp chính trị là nguyên nhân chính của thiếu hiệu quả đối với SOE [86; 24]. Họ chỉ ra rằng các nhà quản lý DN chủ yếu được bổ nhiệm chính trị với cực kỳ ít kinh nghiệm quản lý kinh doanh; nhiều quyết định quản lý quan trọng, ví dụ như vấn đề việc làm, giao dịch, và định giá tài sản đều có can thiệp chính trị. Can thiệp chính trị được thể hiện ra ở các khía cạnh như quá tải số lượng nhân viên, đánh giá thấp các mục tiêu chính, quy hoạch không hợp lý và đánh 11 giá tài sản dưới giá trị trên thị trường, tốn kém chi phí và mất tài sản Nhà nước.

"Tư nhân hoá" sẽ tái cơ cấu tổ chức quản lý và giảm bớt phạm vi can thiệp chính trị trong các quyết định, tuy nhiên ở khía cạnh nào đó vẫn còn tồn tại, nếu không thực hiện minh bạch. Từ tổng quan các nghiên cứu nước ngoài có thể thấy quá trình CPH DNNN đi đôi với cải cách quản trị DN sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động của các DN này, đặc biệt là những DN thuộc sở hữu Nhà nước. Nghĩa là, để CPH DNNN thành công và phát triển tốt hơn sau CPH thì DN CPH phải thay đổi được cách thức quản trị DNNN và thu hút được nhân lực có chất lượng cao tham gia quản trị DN. Trong trường hợp ngược lại, dù CPH đến mức nào đi nữa thì DN cũng không thay đổi được kết quả hoạt động và vẫn tồn tại trong tình trạng yếu kém.

Đối với quá trình CPH ở Việt Nam, khi đánh giá về hiệu quả hoạt động của các DN sau CPH, Truong Dong Loc, Ger Lanjouw và Robert Lensink sử dụng phương pháp so sánh trước và sau CPH và phương pháp khác biệt trong sự khác biệt (DID: Difference in Differences) để kiểm tra ảnh hưởng của các nhân tố vĩ mô và CPH ảnh hưởng tới 121 DN ở Việt Nam [97]. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng sự gia tăng lợi nhuận của DNNN sau CPH thực sự xuất phát từ chính mục đích và thực hiện tích cực, minh bạch quá trình CPH do một số nguyên nhân: Thứ nhất, sau khi CPH, Giám đốc DN buộc phải tập trung vào mục tiêu lợi nhuận DN, bởi vì họ là người phải chịu trách nhiệm trước cổ đông về tỷ lệ lợi tức trên vốn cổ phần [104]. Thứ hai, CPH giúp chuyển giao quyền kiểm soát DN từ các chính trị gia sang nhà quản trị chuyên nghiệp, điều này dẫn đến thay đổi chất lượng, kỹ năng quản trị DN và kỳ vọng dẫn tới gia tăng lợi nhuận nhờ áp dụng các biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động của DN thông qua cắt giảm chi phí lao động và các chi phí thấp, tránh được mất tài sản vô ích khác, điều mà trước đây các chính trị gia không thể thay đổi được để đảm bảo uy tín và vị trí của họ [82]. 12 Trong các công trình nghiên cứu về CPH, đáng chú ý là một số công trình nghiên cứu của các học giả Trung Quốc: Thứ nhất, Tian Zhu với chủ đề: “Công cuộc vận động “công ty hoá” ở Trung Quốc: một sự đánh giá và những hệ quả về chính sách” (Trường đại học Khoa học và Kinh tế Hồng Kông) đã phân tích và đánh giá cuộc vận động công ty hoá ở Trung Quốc dựa trên những vấn đề bức xúc của khu vực KTNN [103].

Tác giả đã kết luận rằng, điều kiện quan trọng hàng đầu để tái cơ cấu thành công khu vực DNNN là phải có sự chuyển đổi cơ bản về sở hữu Nhà nước và tạo lập bộ máy quản lý có hiệu quả, điều đó dẫn đến việc đòi hỏi phải phát triển các thể chế thị trường của quốc gia, đặc biệt là các thị trường tài chính và hệ thống pháp luật. Thứ hai, Lý Trường Hải (1994) trong nghiên cứu về “Tìm tòi việc thí điểm cải cách chế độ cổ phần” đã đặt ra câu hỏi: làm thế nào để các xí nghiệp quốc doanh có thể chuyển đổi hoàn toàn cơ chế kinh doanh (Nhân dân nhật báo ngày 4/4/1994). Theo tác giả, theo đuổi mục tiêu xây dựng chế độ xã hội hiện đại mà Đảng Cộng sản Trung Quốc đã đề ra là phải cải cách xí nghiệp một cách sâu sắc mà chế độ CTCP (dụng ý chỉ sự cần thiết phải CPH DNNN) phải được coi là hình thức tổ chức chủ yếu của chế độ xã hội hiện đại. Quá trình thực hiện cải tổ kinh tế quốc doanh theo chế độ cổ phần trước hết phải làm tốt công tác bình xét đánh giá tài sản quốc hữu, không để thất thoát tài sản quốc hữu.

Thứ ba, Trịnh Phúc Viên (1995) trong nghiên cứu về “Những vấn đề khó khăn và viễn cảnh của công cuộc cải cách xí nghiệp quốc doanh ở Trung Quốc”, đã phân tích những tệ nạn kéo dài quá trình cải cách, những khó khăn gặp phải và những chính sách đổi mới của xí nghiệp quốc doanh ở Trung Quốc (Tạp chí nghiên cứu “Trung công”, Đài Loan, số 9/1995) [76]. Theo tác giả, việc chuyển đổi các xí nghiệp quốc doanh thành CTCP cần theo nguyên tắc: i) Các công ty sản xuất các sản phẩm đặc biệt và các xí nghiệp quốc phòng nên do một mình Nhà nước đầu tư KD; ii) Những xí nghiệp cốt cán trong các ngành trụ cột và ngành cơ sở Nhà 13 nước phải khống chế cổ phần và thu hút vốn tham gia cổ phần của các lực lượng ngoài quốc doanh; iii) Các CTCP trên thị trường chỉ chiếm số ít và Nhà nước tăng cường kiểm soát; iv) Các TCT thuộc ngành nghề có tính chất quốc gia phải từng bước cải tổ thành các CTCP khống chế. - “Cơ sở khoa học của việc chuyển một số doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần ở Việt Nam” (Đề tài khoa học cấp Nhà nước do Bộ Tài chính chủ trì). Công trình này đã đưa ra cơ sở lý luận của CPH DNNN cũng như một số điều kiện đặc thù của Việt Nam khi tiến hành CPH DNNN.

Với đề tài “Cổ phần hoá các DNNN ở Việt Nam”, Hoàng Công Thi, Phùng Thị Doan (1994, Viện Khoa học tài chính, NXB Thống kê) đã đề cập đến các nghiên cứu điển hình về quá trình CPH DNNN ở Việt Nam, trong đó nhấn mạnh các vấn đề trình tự, thủ tục liên quan đến vốn, tài sản, đất đai trong quá trình CPH. Nghiên cứu "Ảnh hưởng của cải cách doanh nghiệp Nhà nước tới sự phát triển khu vực phi Nhà nước ở Việt Nam" của CIEM (2000) đã chỉ ra những ảnh hưởng tích cực của việc đổi mới các DNNN đối với sự phát triển khu vực phi Nhà nước. Các tác giả đã khảo sát, điều tra ảnh hưởng tích cực và tiêu cực, bao gồm (i) tạo cơ chế cạnh tranh bình đẳng giữa DNNN và DN không phải Nhà nước, (ii) tạo điều kiện thúc đẩy, hỗ trợ DN phi Nhà nước mở rộng thị trường, nâng cao năng lực sản xuất; Tuy nhiên, (i) việc phát triển quá mạnh đầu tư Nhà nước ở các DNNN trong một số ngành nghề có thể "lấn át" đầu tư tư nhân, (ii) vẫn còn tư tưởng "ưu tiên" DNNN so với các DN phi Nhà nước ở một số địa phương dẫn đến các chính sách ưu đãi đầu tư đều hướng tới các DNNN, không phải DN phi Nhà nước. Cuốn sách “Cổ phần hóa - giải pháp quan trọng trong cải cách doanh nghiệp Nhà nước” của Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển DN đã đề cập đến nhiều chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyết tâm đổi mới DNNN thông qua CPH DNNN, và đưa ra một số đánh giá quá trình CPH ở Việt 14 Nam.

Phan Đức Hiếu (2003, NXB Tài chính), cuốn “Cải cách doanh nghiệp Nhà nước” với trọng tâm nghiên cứu các mô hình đổi mới hoạt động của DNNN, gồm các nội dung chính sau: Sắp xếp lại, CPH DNNN; chuyển DNNN thành CTCP, Công ty TNHH MTV; Giao, bán, khoán kinh doanh, cho thuê DNNN. Cuốn sách không đề cập đến công tác QLNN về CPH. Với chủ đề “Cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước: những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Lê Hồng Hạnh (2004, NXB Chính trị Quốc gia) nghiên cứu tình hình DNNN ở các quốc gia và xu thế cải cách DNNN, những vấn đề lý luận và thực tiễn về DNNN ở Việt Nam, về CPH DNNN, hoàn thiện nền tảng pháp lý cho CPH DNNN, đặc biệt là trình tự, thủ tục pháp lý về cổ phần hóa DNNN Khi luận giải về lý luận và thực tiễn CPH DNNN, tác giả đã đi sâu phân tích những tác động của CPH DNNN: Một là, CPH có tác động làm cho sở hữu trong DN trở nên đa dạng hơn. Vì vậy, nó giải quyết được khá triệt để vấn đề sở hữu trong DNNN vốn gây ra những vướng mắc về hiệu quả và sự kém năng động trong SXKD Hai là, CPH có tác dụng trong việc xã hội hoá tư liệu sản xuất trong các DN có sở hữu một chủ, góp phần thu hút đầu tư của các thành phần xã hội vào sản xuất, kinh doanh đối với DN sau khi cổ phần hóa.

Ba là, CPH tạo cho những người lao động cơ hội thực sự làm chủ DN nếu như người lao động muốn.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Quy trình cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước: Thực tiễn ngành giao thông vận tải Việt Nam" cung cấp cái nhìn chi tiết về quá trình cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước, đặc biệt trong lĩnh vực giao thông vận tải. Nó phân tích các bước thực hiện, thách thức và cơ hội trong việc chuyển đổi mô hình quản lý, đồng thời đưa ra những bài học kinh nghiệm từ thực tiễn. Đọc giả sẽ hiểu rõ hơn về cách thức cổ phần hóa góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động và thu hút đầu tư vào ngành giao thông vận tải.

Để mở rộng kiến thức về các vấn đề kinh tế và quản lý liên quan, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ vai trò của KTN trong việc quản lý nợ công ở Việt Nam, Luận án tiến sĩ cơ cấu thu ngân sách nhà nước bền vững ở Việt Nam, và Luận án tiến sĩ tác động của chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế đến việc làm ở Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh kinh tế và quản lý liên quan đến chính sách nhà nước.