Đặt vấn đề Chúng ta hiểu, bảo trì là sự đảm bảo rằng các tài sản vật chất tiếp tục thực hiện đƣợc các chức năng xác định của chúng. Bất kỳ một tài sản vật chất nào đƣợc đƣa vào sử dụng đều nhằm thực hiện một hoặc nhiều chức năng cụ thể. Vì thế chúng ta bảo trì một tài sản, trạng thái mà ta muốn bảo vệ là trạng thái mà tài sản đó tiếp tục thực hiện đƣợc các chức năng xác định. Nói cách khác, nếu một tài sản vật chất ngay từ đầu không thể thực hiện đƣợc các chức năng xác định của nó thì bảo trì cũng không thể mang lại khả năng đó.
Chính vì vậy, khi thiết kế đã phải tính toán để toàn bộ thời gian sử dụng công trình. Ví dụ một công trình đầu mối thủy lợi thƣờng có vòng đời từ 50 năm đến vài trăm năm và phải đảm bảo là các chức năng sử dụng trong suốt thời gian đó.2, Cần thay đổi nhận thức về bảo trì công trình Có thể hiểu một cách đơn giản công trình cũng đƣợc coi nhƣ một cái máy, là thứ tài sản cần đƣợc duy tu để đảm bảo rằng giá trị của nó không bị hao mòn. Nhƣng trong thực tế ở nƣớc ta trong nhiều năm qua và ngay trong thời điểm hiện tại, loại hình tài sản này không đƣợc đối sử nhƣ thế. Chúng ta đã bàn nhiều nói nhiều về sự xuống cấp của công trình trong quá trình khai thác sử dụng.
Tình trạng công tác bảo trì bị coi nhẹ phần nào mọi ngƣời đều có cảm giác rằng công trình là loại tài sản tồn tại lâu và chỉ hƣ h ng từ từ. Điều này chỉ đúng với những kết cấu thô nhƣng không ngoại lệ nhiều kết cấu thô đã bị hƣ h ng nhanh chóng do những tác động của ngoại tại, môi trƣờng. Phần hạng mục đi kèm trang thiết bị kỹ thuật của công trình thƣờng có thời gian ngắn hơn nhiều so với kết cấu chính của công trình; Chúng ta cần thấy rằng, những vấn đề kỹ thuật phức tạp, những sự cố khó chuẩn đoán đều có lỗi của ngƣời thiết kế. Những sai sót này khi phát hiện luôn đòi h i chi phí tốn kém để sửa chữa.
Việc duy tu, sửa chữa cũng đòi h i tính chuyên cao bỡi không ít trƣờng hợp đã có những khoản tiền lớn bị lãng phí cho những công việc duy tu, sửa chữa không thích hợp. Công việc vệ sinh các hạng mục công trình không phải là trách nhiệm của việc bảo trì. Tuy nhiên tình trạng vệ sinh kém hoặc dùng phƣơng pháp vệ sinh không thích hợp với những vật liệu gây hại có thể ảnh hƣởng đến tuổi thọ công trình và những hệ thống các hạng mục kỹ thuât; 14 Hình 1.5 Hồ Sông Trâu trƣớc và sau khi bảo trì hệ thống nâng hạ cửa van Do đó nếu không thực hiện việc bảo trì, các chức năng của công trình bị ảnh hƣởng, ngoài gia giá trị của chúng cũng giảm đi. Một lý do quan trọng hơn đòi h i các công trình cần đƣợc bảo trì đó là mục tiêu bảo vệ sức kh e, sự an toàn cho những ngƣời vận hành, khai thác, sử dụng và những ngƣời xung quanh; Hình 1.6 Bảo trì định kỳ kênh Chính Bắc, hồ Sông Sắt, tỉnh Ninh Thuận Một vấn đề nữa là chi phí bảo trì ngày càng tăng về số lƣợng cũng nhƣ tỉ lệ trên tổng chi phí.
Trong một số ngành, chi phí bảo trì ngay này đang là một khoản chi 15 phí lớn thứ hai thậm chí cao nhất trong các loại chi chí vận hành. Một trong các nguyên tắc cơ bản của thiết kế công trình là việc tính giá thành công trình trong suốt chu kỳ sử dụng của nó. Để tính đƣợc giá thành tổng cộng thì đơn giản nhất là chuyển đổi tất cả các chi phí cho công trình trong tƣơng lai (bảo trì, vận hành, bảo dƣỡng, sửa chữa.) về giá trị hiện tại. Rất nhiều nhà thiết kế tính giá thành công trình chỉ dựa trên chi phí ban đầu.3, Yêu cầu kỹ thuật c a hồ chứa nư c đối v i bảo trì Công trình tích nƣớc và điều tiết dòng chảy nhằm cung cấp nƣớc cho các ngành kinh tế quốc dân, sản xuất điện năng, cắt giảm lũ cho vùng hạ du.
Hồ chứa nƣớc bao gồm các hạng mục: Lòng hồ để chứa nƣớc; Đập chắn nƣớc; Công trình xả lũ; Công trình lấy nƣớc; Công trình quản lý vận hành; Theo yêu cầu sử dụng, một số hồ chứa nƣớc có thể có thêm công trình khác nhƣ: công trình xả bùn cát, tháo cạn hồ; công trình giao thông thủy (âu thuyền, công trình chuyển tàu, bến cảng.), giao thông bộ, công trình cho cá đi, nhà máy thủy điện nằm trong tuyến áp lực.1, Hồ chứa phải đảm bảo Có đủ dung tích cần thiết để cấp nƣớc. Dung tích bồi lắng của bùn cát chƣa bị lấp đầy, bề mặt bùn cát lắng đọng thấp hơn cao trình cửa lấy nƣớc. Bờ hồ chứa phải đảm bảo ổn định, không bị sạt lở quá mức cho phép. Khu vực sạt lở không ảnh hƣởng đến dân sinh kinh tế và các hạng mục khác của công trình thủy lợi.2, Nguồn nư c trong hồ phải đảm bảo Không bị ô nhiễm quá mức cho phép, các nguồn nƣớc thải xả vào hồ phải đƣợc xử lý theo tiêu chuẩn và đƣợc sự cho phép của các cấp có thẩm quyền; 16 Bảng 1.3 Mức độ ô nhiễm của hồ đƣợc thống kê Mức độ TT WQI Mức đánh giá chất lượng nước Màu nước ô nhiễm Không ô Xanh nƣớc 1 91 ÷ 100 Sử dụng tốt cho mục đích cấp nƣớc sinh hoạt nhiễm biển Sử dụng cho mục đích cấp nƣớc sinh hoạt Ô nhiễm 2 76 ÷ 90 Xanh lá cây nhƣng cần các biện pháp xử lý phù hợp nhẹ Ô nhiễm Sử dụng cho mục đích tƣới tiêu và các mục 3 51 ÷ 75 trung Vàng đích tƣơng đƣơng khác bình Sử dụng cho giao thông thủy và mục đích Ô nhiễm 4 26 ÷ 50 Da cam tƣơng đƣơng khác nặng Nƣớc ô nhiễm nặng, cần các biện pháp xử lý Ô nhiễm 5 0 ÷ 25 Đ trong tƣơng lai rất nặng 1.3, Đ p đất phải đảm bảo Cao trình đỉnh đập đạt cao trình thiết kế.
Mái thƣợng lƣu và hạ lƣu đập đảm bảo ổn định không bị sạt trƣợt, có đủ các công trình và thiết bị bảo vệ đập chống đƣợc các tác hại của môi trƣờng. Các thiết bị tiêu thoát nƣớc bề mặt hoạt động tốt.7 Hồ Phƣớc Trung trƣớc và sau khi bảo trì cơ mái thƣợng lƣu đập Thấm qua nền đập, thân đập, hai vai đập, vùng tiếp giáp gữa đập với nền, bờ và mang các công trình đặt trong đập không làm ảnh hƣởng đến lƣợng nƣớc trữ trong hồ, không gây xói ngầm, không làm hƣ h ng đập và giảm tuổi thọ của công trình. Đập không bị lún sụt, nứt nẻ. Các vùng thân đập nối tiếp với công trình xây đúc nhƣ 17 cống dƣới đập, tƣờng bên của tràn xả lũ, đập bê tông.
phải đảm bảo không phát sinh hiện tƣợng thấm tập trung, hiện tƣợng xói ngầm và các vết nứt.4, C ng lấy nư c phải đảm bảo Làm việc an toàn, ổn định. Lấy đủ lƣợng nƣớc cần thiết theo thiết kế. Có khả năng điều chỉnh lƣợng nƣớc cấp và chủ động ngừng cấp khi cần kiểm tra, sửa chữa theo quy trình vận hành hoặc các trƣờng hợp gặp sự cố. Có bố trí lƣới chắn rác, thiết bị hoặc phƣơng tiện thu gom rác đề ngăn ngừa và loại b bùn cát, rác rƣởi và vật trôi nổi xâm nhập vào kênh dẫn.
Có bố trí van sửa chữa ở phía cửa vào của cống; 1.5, Thiết bị cơ h phải đảm bảo Hoạt động tốt, kín nƣớc, khi đóng mở không bị kẹt, dễ vận hành, bảo dƣỡng; 1.6, Thiết bị điện phải đảm bảo Hoạt động tốt, linh hoạt, an toàn cho ngƣời sử dụng, ngƣời quản lý vận hành. Kết luận chư ng 1 Những nghiên cứu mới đã làm thay đổi quan niệm cơ bản nhất về tuổi đời công trình và hƣ h ng công trình. Hiển nhiên rằng có mối quan hệ giữa mức độ hƣ h ng và tuổi đời của công trình. Trƣớc kia ngƣời ta nghĩ rằng hƣ h ng là do công trình “già” đi.
Trong thế hệ thứ hai đã có thêm quan niệm cho rằng giai đoạn “khởi động” ban đầu cũng ảnh hƣởng đến hƣ h ng. Tuy nhiên các nghiên cứu ở thế hệ thứ ba đã chứng t rằng trong thực tế không phải chỉ có một hoặc hai mà là năm dạng bảo trì s đƣợc đề câp ở Chƣơng 2; Hiện nay, bảo trì công trình ngày càng trở nên quan trọng. Ở những nƣớc đang phát triển, có nhiều công trình cũ đang hoạt động. Vấn đề là yếu tố cần quan tâm, bởi vì chi phí để thực hiện.
Nếu công tác bảo trì tốt, hậu quả của những h ng hóc đã đƣợc đề phòng thì những vấn đề này phần nào đã đƣợc giải quyết; 18 CHƯƠNG 2, CƠ SỞ NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG QUY TRÌNH BẢO TRÌ HỒ CHỨA NƯỚC 2.1, Các quy định pháp luật về công tác bảo trì công trình xây dựng 2.1, Quá trình phát tri n các ghị định về bảo trì công trình Vì lợi ích cộng đồng, Nhà nƣớc đã ban hành những văn bản pháp lý đƣa ra các quy định bắt buộc chủ sở hữu phải quan tâm thực hiện những công việc để đảm bảo chất lƣợng công trình mà chính nó có mối liên quan trực tiếp đến sức kh e và sự an toàn của con ngƣời đang đƣợc hƣởng lợi từ các sản phẩm của dự án đầu tƣ xây dựng; Năm 2004 Nghị định số 209/2004/NĐ-CP về quản lý chất lƣợng công trình xây dựng đƣợc ban hành tại Chƣơng VII đề cập về công tác bảo trì công trình xây dựng đây là sự khởi đầu cơ sở pháp lý để thực thi công tác bảo trì đối với các cơ quan quản lý nhà nƣớc về lĩnh vực xây dựng, đến năm 2010 Chính phủ ban hành mới một Nghị định riêng để tập chung cho công tác bảo trì công trình xây dựng đó là Nghị định số 114/2010/NĐ-CP về bảo trì công trình xây dựng. Nghị định này có 6 (sáu) Chƣơng với 28 Điều, hiệu lực thi hành từ ngày 20 tháng 01 năm 2011 và bãi b Chƣơng VII về công tác bảo trì công trình xây dựng của Nghị định số 209/2004/NĐ-CP ngày 16 tháng 12 năm 2004 về quản lý chất lƣợng công trình xây dựng, qua một thời gian triển khai thực hiện đến năm 2015 Chính phủ ban hành Nghị định số 46/2015/NĐ-CP về quản lý chất lƣợng và bảo trì công trình xây dựng. Trình tự thực hiện bảo trì công trình xây dựng gồm: Lập và phê duyệt quy trình bảo trì công trình xây dựng. Lập kế hoạch và dự toán kinh phí bảo trì công trình xây dựng.