Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUY TRÌNH BAN HÀNHVĂN BẢN HÀNH CHÍNH 1. Khái quát chung về văn bản hành chính 1. Một số khái niệm về văn bản 1. Khái niệm về văn bản Văn bản là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học.
Tùy theo góc độ nghiên cứu mà các nhà nghiên cứu có cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau về văn bản. Theo từ điển Tiếng Việt: “Văn bản là bản viết hoặc in ra giấy, mang nội dung những gì cần được ghi để lưu làm bằng chứng” [24]. Theo cách hiểu này thì văn bản chủ yếu là sản phẩm nhằm phục vụ mục đích lưu trữ thông tin phục vụ mục đích tra cứu của người sử dụng mà chưa đề cập đến chức năng truyền đạt thông tin và các chức năng khác của văn bản. Theo nghĩa hẹp: Văn bản là khái niệm chỉ công văn, giấy tờ hình thành trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức.
Theo nghĩa rộng nhất, văn bản được hiểu là phương tiện ghi tin và truyền đạt thông tin bằng ngôn ngữ (ký hiệu) nhất định. Như vậy, có thể hiểu văn bản là sản phẩm của quá trình giao tiếp. Về mặt hình thức: văn bản được thể hiện bằng ngôn ngữ (ký hiệu) nhất định, phổ biến nhất là chữ viết, được gắn với một vật mang tin nhất định. Về mặt nội dung: văn bản chứa đựng, truyền đạt thông tin nhất định, có tính mục đích, giá trị thông tin sẽ quyết định giá trị nội dung của văn bản.
Trên thực tế, tùy theo từng lĩnh vực cụ thể của đời sống xã hội mà mỗi một loại văn bản có hình thức và nội dung thể hiện khác nhau như: văn bản ghi âm, văn bản ghi hình, văn bản nghệ thuật, văn bản quản lý. Khái niệm về văn bản quản lý nhà nước Trong hoạt động quản lý nhà nước, văn bản vừa là công cụ quản lý, vừa là sản phẩm của hoạt động quản lý. Các cơ quan nhà nước sử dụng văn bản để cụ thể hóa pháp luật, để hướng dẫn việc thực hiện pháp luật cũng như là để áp dụng pháp luật vào giải quyết các nhiệm vụ quản lý nhà nước. Việc sử dụng văn bản trong giải quyết công việc hằng ngày cũng là một cách phổ biến để các cơ quan nhà nước thực hiện các thẩm quyền cũng như chức năng, nhiệm vụ của mình theo quy định của pháp luật.
Theo giáo trình Kỹ thuật xây dựng và ban hành văn bản, “Văn bản quản lí nhà nước là những quyết định và thông tin quản lí thành văn (được văn bản hóa) do các cơ quan quản lí nhà nước ban hành theo thẩm quyền, trình tự, thủ tục, hình thức nhất định và được Nhà nước đảm bảo thi hành bằng những biện pháp khác nhau nhằm điều chỉnh các mối quan hệ quản lí nội bộ nhà nước hoặc giữa các cơ quan nhà nước với các tổ chức và công dân”[17]. Theo khái niệm văn bản quản lý nhà nước nêu trên, có thể đưa ra một số đặc điểm cơ bản của văn bản quản lý nhà nước như sau: - Văn bản quản lý nhà nước được hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan nhà nước. - Thẩm quyền ban hành văn bản quản lý nhà nước theo luật định hoặc theo quy chế hoạt động của từng cơ quan quy định. - Thể thức của các văn bản quản lý nhà nước được pháp luật quy định mà cụ thể hiện nay được quy định tại Nghị định số 34/2016/NĐ - CP ban hành ngày 14 tháng 5 năm 2016, có hiệu lực kể từ ngày 01/7/2016 và Thông tư số 01/2011/TT-BNV ban hành ngày 19 tháng 01 năm 2011, có hiệu lực kể từ ngày 04/3/2011.
Nội dung chủ yếu dùng để truyền đạt các quyết định quản lý hoặc ghi chép thông tin quản lý. 9 - Văn phong, ngôn ngữ: sử dụng văn phong hành chính - công vụ. Khái niệm về văn bản hành chính Văn bản hành chính là là những văn bản do các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ban hành theo trình tự, hình thức nhất định nhằm giải quyết công việc thường xuyên trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức. Là phương tiện không thể thiếu được trong các hoạt động quản lý và điều hành của các cơ quan, tổ chức.
Tại Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2004 của Chính phủ về Công tác Văn thư và Nghị định 09/2010/ NĐ - CP ngày08 tháng 02 năm 2010 sửa đổi bổ sung một số điều của nghị định 110; Tại văn bản này quy định văn bản hành chính được chia làm hai loại: Văn bản cá biệt và văn bản hành chính thông thường. Văn bản cá biệt bao gồm: - Quyết định cá biệt; - Chỉ thị cá biệt; - Nghị quyết cá biệt. Văn bản hành chính thông thường, bao gồm: Công văn, tờ trình, thông báo, báo cáo, biên bản,đề án, chương trình, kế hoạch, các loại giấy (giấy đi đường, giấy nghỉ phép, giấy ủy nhiệm.), các loại phiếu (phiếu gửi, phiếu báo, phiếu trình. Chức năng của văn bản hành chính 1.
Chức năng thông tin Đây là chức năng cơ bản và chung nhất của mọi loại văn bản. Văn bản chứa đựng và chuyển tải thông tin từ đối tượng này sang đối tượng khác. Văn bản quản lý nhà nước chứa đựng các thông tin nhà nước (như phương hướng, kế hoạch phát triển, các chính sách, các quyết định quản lý.) của chủ thể quản lý (các cơ quan quản lý nhà nước) đến đối tượng quản lý (là các cơ quan quản lý 10 nhà nước cấp dưới hay toàn xã hội). Giá trị của văn bản được quy định bởi giá trị thông tin chứa đựng trong đó.
Thông qua hệ thống văn bản của các cơ quan, người ta có thể thu nhận được thông tin phục vụ cho các hoạt động tiếp theo của quá trình quản lý như: - Thông tin về chủ trương đường lối của Đảng và Nhà nước liên quan đến mục tiêu phương hướng hoạt động của cơ quan. - Thông tin về phương thức hoạt động, mục tiêu, nhiệm vụ, quan hệ công tác giữa các cơ quan, đơn vị. - Thông tin về các đối tượng quản lý, về sự biến động. - Thông tin về các kết quả đã đạt được trong quá trình quản lý.
Chức năng pháp lý Chỉ có Nhà nước mới có quyền lập pháp và lập quy. Do vậy, các văn bản quản lý nhà nước được đảm bảo thực thi bằng quyền lực Nhà nước. Chức năng pháp lý được thể hiện trên hai phương diện: - Văn bản được sử dụng để ghi lại các quy phạm pháp luật và các quan hệ về luật pháp hình thành trong quá trình quản lý và các hoạt dộng khác. - Bản thân văn bản là chứng cứ pháp lý để giải quyết các nhiệm vụ cụ thể trong quản lý và điều hành công việc của cơ quan.
Chức năng quản lý Chức năng quản lý của văn bản quản lý nhà nước được thể hiện khi văn bản được sử dụng như một phương tiện thu thập thông tin (báo cáo, tờ trình…) và ban hành truyền đạt thông tin để tổ chức quản lý và duy trì, điều hành thực hiện sự quản lý (lệnh, nghị định, thông tư, nghị quyết, chỉ thị…). Thông qua chức năng quản lý, mối quan hệ giữa chủ thể và khách thể quản lý được xác lập. Văn bản quản lý nhà nước là phương tiện thiết yếu để các cơ quan quản lý có thể truyền đạt chính xác các quyết định quản lý đến hệ thống bị quản lý của mình, đồng thời cũng là đầu mối để theo dõi, kiểm tra hoạt động 11 của các cơ quan cấp dưới. Với chức năng quản lý, văn bản quản lý nhà nước tạo nên sự ổn định trong công việc, thiết lập được các định mức cần thiết cho mỗi loại công việc, tránh được cách làm tùy tiện, thiếu khoa học.
Chức năng quản lý của văn bản quản lý nhà nước có tính khách quan, được tạo thành do chính nhu cầu của hoạt động quản lý và nhu cầu sử dụng văn bản như một phương tiện quản lý. Chức năng văn hóa - xã hội - Văn hóa là tổng thể giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình lao động cải tạo thế giới và văn bản cũng là một sản phẩm của quá trình lao động quản lý, nó được dùng làm một phương tiện để ghi chép lại những kinh nghiệm quản lý, kinh nghiệm lao động sản xuất từ thế hệ này sang thế hệ khác. Với ý nghĩa ấy, văn bản luôn có chức năng văn hóa. - Khi có chức năng văn hóa thì liền sau đó văn bản làm chức năng văn hóa, điều đó bắt buộc mọi người sử dụng văn bản phải làm cho văn bản có tính văn hóa.
Các chức năng khác Bên cạnh những chức năng cơ bản nói trên, trong đời sống xã hội, văn bản còn thể hiện các chức năng khác như chức năng giao tiếp, thống kê, xử lý. - Với chức năng giao tiếp, hoạt động sản sinh văn bản phục vụ giao tiếp giữa các quốc gia với nhau, giữa cơ quan với cơ quan. Thông qua chức năng này, mối quan hệ giữa con người với con người, cơ quan với cơ quan, quốc gia này với quốc gia khác được thắt chặt hơn và ngược lại. - Với chức năng thống kê văn bản sẽ là công cụ để nói lên tiếng nói của những con số, những sự kiện, những vấn đề và khi ở trong văn bản thì những con số, những sự kiện, những vấn đề trở nên biết nói.
- Với chức năng sử liệu, văn bản là một công cụ dùng để ghi lại lịch sử của một dân tộc, quốc gia, một thời đại, cơ quan, tổ chức. Có thể nói văn bản là một 12 công cụ khách quan để nghiên cứu về quá trình lịch sử phát triển của một tổ chức, một quốc gia. Phân loại văn bản hành chính Theo Nghị định 09/2010/ NĐ - CP ngày 08 tháng 02 năm 2010 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 110/2004/NĐ- CP, văn bản hành chính, tổng cộng gồm 32 loại văn bản, cụ thể như sau: nghị quyết (cá biệt), quyết định (cá biệt), chỉ thị, quy chế, quy định, thông cáo, thông báo, hướng dẫn, chương trình, kế hoạch, phương án, đề án, dự án, báo cáo, biên bản, tờ trình, hợp đồng, công văn, công điện, bản ghi nhớ, bản cam kết, bản thoả thuận, giấy chứng nhận, giấy uỷ quyền, giấy mời, giấy giới thiệu, giấy nghỉ phép, giấy đi đường, giấy biên nhận hồ sơ, phiếu gửi, phiếu chuyển, thư công. Như vậy, việc liệt kê từng loại văn bản rất nhiều, trong phạm vi luận văn này tác giả quy về 02 nhóm nhóm văn bản hành chính sau: 1.