Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRÊN THẾ GIỚI. Các quy định về xuất xứ hàng hóa là một phần không thể thiếu được trong các hiệp định thương mại tự do trên thế giới và trong hệ thống luật pháp của nhiều quốc gia. Bởi vậy, nội dung này được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đề cập trên nhiều khía cạnh khác nhau. Theo trình tự thời gian, có thể kể đến các công trình nghiên cứu như: 1.Nhóm công trình nghiên cứu về quy tắc xuất xứ hàng hoá.
- Peter Clark (2003), “Free Trade Areas and Rules of Origin: Economics and Politics” [91], của IMF năm 2003 chỉ ra mối liên hệ giữa kinh tế và chính trị trong các FTAs và ảnh hưởng tới các quy tắc xuất xứ như thế nào. - Antoni Estevadeordal và Kati Suominen (2003), “Rules of Origin in the World Trading System” [58], do WTO biên soạn đánh giá mục đích và tác động của các quy tắc xuất xứ, so sánh cấu trúc của các quy tắc xuất xứ ở 5 khu vực Châu Âu, Châu Mỹ, châu Phi, châu Á và Trung Đông. Từ đó đưa ra những nhận định về tương lai quy tắc xuất xứ trên toàn cầu, vấn đề hài hoà hoá các quy tắc xuất xứ ưu đãi. - Kala Krishna (2004), “Understanding rules of origin” [76], đại học Pensylvania ấn bản tháng 11/2004, phân tích những tác động của quy tắc xuất xứ liên quan đến ưu đãi thuế quan trong các FTA.
Nội dung của nghiên cứu tập trung vào việc xem xét về mặt lý thuyết cũng như về thực nghiệm qua việc áp dụng mô hình cân bằng tổng thể để đánh giá ảnh hưởng của quy tắc xuất xứ đến việc làm gia tăng chi phí đầu vào của sản xuất sản phẩm của các đối thủ trong FTA. - Patricia Augier, Michael Gasiorek, Charles Lai Tong (2005), “The 11 impact rules of origin on trade flows”[89], Economic Policy 20 (43): 567- 624, bài viết phân tích mối liên hệ giữa các quy tắc xuất xứ và thuế quan từ đó tác động đến dòng chảy thương mại như thế nào. Nghiên cứu sử dụng phương pháp mô hình trọng lực trong việc đánh giá tác động của quy tắc xuất xứ đối với trao đổi thương mại của các nước châu Âu. Kết quả cho thấy quy tắc xuất xứ thực sự tác động đáng kể đến trao đổi thương mại khi mà làm hạn chế sự trao đổi thương mại, việc cộng gộp trong xuất xứ hàng hoá ảnh hưởng đến khâu trung gian thương mại hơn là khâu sản xuất và mức thuế càng cao thì tác động của việc cộng gộp càng thấp.
- Paul Brenton và Hiroshi Imagawa (2005), “Rules of origin, trade and customs” đăng trong cuốn Customs modernization handbook [106] (sổ tay hiện đại hóa hải quan) do ngân hàng thế giới xuất bản năm 2005. Bài viết đi vào phân tích và đánh giá mối liên hệ giữa xuất xứ hàng hóa, thương mại và hải quan theo các quy định trong WTO, các hiệp định thương mại khu vực. - Olivier Cadot, Jaime de Melo, Alberto Portugal-Perez (2006), “Rules of Origin for Preferential trading arrangements : implications for the ASEAN free trade area of EU and US experience”[88], do Ngân hàng thế giới ấn bản năm 2006. Các tác giả chỉ ra nội dung của quy tắc xuất xứ EU với hệ thống ưu đãi thuế quan GSP, kinh nghiệm từ triển khai quy tắc xuất xứ NAFTA của Mỹ, từ đó rút ra kinh nghiệm triển khai AFTA của các nước ASEAN.
- Olivier Cadot, Antoni Estevadeordal, Akiko Suwa-Eisenmann và Thiery Verdier (2006), “The Origin of Goods”[87], nhà xuất bản đại học Oxford xuất bản 2006, chỉ ra những vấn đề lý luận chung về xuất xứ hàng hóa, quy tắc xuất xứ hàng hóa trong các thỏa thuận thương mại khu vực, ảnh hưởng và tác động của quy tắc xuất xứ hàng hóa đến thương mại, chi phí hải quan và sự phát triển kinh tế. - Teruo UJIIE (2006), “Rules of origin: conceptual explorations and 12 lessons from the generalized system of preferences”[97], do ngân hàng ADB ấn hành tháng 12 năm 2006. Cuốn sách này tập trung vào làm rõ khái niệm cơ bản về xuất xứ hàng hóa trong thương mại quốc tế, đánh giá các quy tắc xuất xứ trong hệ thống GSP và trong một số FTA châu Á. Medalla and Josef T.
Yap (2008), “Policy Issues for the ASEAN Economic Community: the Rules of Origin”[71], Philippine Institute for Development Studies. Bài viết đánh giá tình hình thực hiện quy tắc xuất xứ ASEAN, mức độ tận dụng việc ưu đãi thuế CEPT/AFTA của một số nước quy việc sử dụng chứng nhận xuất xứ, đánh giá về việc ra đời AEC tác động đến quy tắc xuất xứ, từ đó thúc đẩy tiếp tục cải cách quy tắc xuất xứ nhằm tạo thuận lợi hơn đối với thương mại ASEAN. - Stefano Inama (2009), “Rules of origin on international trade”[94], đại học Cambridge xuất bản 2009, chỉ ra những nội dung quy định về xuất xứ theo quy định của WTO, quy tắc xuất xứ theo hệ thống GSP của một số nước như EU, Mỹ, Canada, quy tắc xuất xứ trong các thỏa thuận thương mại khu vực NAFTA, AFTA, Mercosur. Đồng thời chỉ ra những kinh nghiệm và cách thức quản lý các quy tắc xuất xứ.
Medalla, Jenny Balboa (2009), “ASEAN Rules of Origin: Lessons and Recommendations for Best Practice” [70]. Bài viết nghiên cứu những kinh nghiệm của ASEAN trong việc áp dụng quy tắc xuất xứ, đánh giá về chi phí áp dụng quy tắc xuất xứ và mức độ tự do hoá. Đề xuất một vài kiến nghị đơn giản quá trình áp dụng quy tắc xuất xứ và cải cách thủ tục nhà nước cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng quy tắc xuất xứ. - Antoni Estevadeordal, Jeremy Harris, Kati Suominen (2009), “Multilateralising Preferential Rules of Origin around the World”[60], IDB WORKING PAPER SERIES # IDB-WP-137.
Bài viết đánh giá một cách toàn cảnh về quy tắc xuất xứ hàng hoá trên thế giới, những hạn chế và tính phức 13 tạp của các quy tắc xuất xứ, những tác động đến hoạt động thương mại. - Biswajit Nag and Debdeep De (2011), “Rules of origin and development of regional production network in Asia: case studies of selected industries’’[64], Working Papers 10111, Asia-Pacific Research and Training Network on Trade (ARTNeT), an initiative of UNESCAP and IDRC, Canada. Đây là đề tài nghiên cứu sự phát triển của các FTA và BTA tác động đến quy tắc xuất xứ, tác động đến sự tăng trưởng nhập khẩu và cắt giảm thuế quan, mối liên hệ giữa tăng trưởng thương mại, quy tắc xuất xứ và tiềm năng phát triển hệ thống liên kết sản xuất khu vực trong lĩnh vực công nghiệp. - Atsushi Tanaka (2011), “World trends in preferential Origin certification and Verification”[61], do WCO ấn bản tháng 11 năm 2011.
Cuốn sách tập trung vào làm rõ các nội dung chứng minh xuất xứ và thủ tục kiểm tra xuất xứ, những thách thức trong việc áp dụng xuất xứ hàng hóa đối với cơ quan hải quan. Những thách thức chính mà các cơ quan Hải quan phải đối mặt là sự không tuân thủ các yêu cầu chứng nhận, thiếu thủ tục chuẩn xác để xác minh xuất xứ và thiếu năng lực. Việc đào tạo cán bộ Hải quan là biện pháp chính để giải quyết những thách thức. Nâng cao nhận thức của khu vực tư nhân và tăng cường hợp tác với các cơ quan chức năng có thẩm quyền cũng được coi là những giải pháp quan trọng.
- Mina Mashayekhi (2011), “Rules of origin and origin procedures applicable to exports from least developed countries” [84], UNCTAD. Báo cáo đánh giá về việc áp dụng quy tắc xuất xứ ở các nước chậm phát triển trong việc xuất khẩu vào các thị trường chính như Mỹ, EU, Canada, Nhật bản. Đánh giá về vấn đề quản lý xuất xứ qua việc xác định xuất xứ, thủ tục cấp xuất xứ, xác nhận và kiểm tra xuất xứ hàng hoá nhập khẩu, các quy định pháp lý về xuất xứ và đề xuất một số khuyến nghị nhằm đơn giản hoá việc áp dụng quy tắc xuất xứ. (2012), “Empirical assessment of the impact on trade of product specific preferential rules of origin” [101], Luận án tiến sỹ, đại học Nottingham.
Tác giả đi vào làm rõ những vấn đề lý luận về quy tắc xuất xứ, ảnh hưởng của quy tắc xuất xứ với nền kinh tế qua lý thuyết và dữ liệu phân tích, những hạn chế của quy tắc xuất xứ và thực trạng việc áp dụng trên thế giới hiện nay đòi hỏi phải có sự cải cách về quy tắc xuất xứ. - Maria Donner Abreu (2013), “Preferential rules of origin in regional trade agreements” [81], WTO. Báo cáo nghiên cứu điều tra việc áp dụng quy tắc xuất xứ ưu đãi tại 192 hiệp định thương mại khu vực làm rõ những ưu đãi thực hiện qua quy tắc xuất xứ và việc sử dụng các ưu đãi qua các RTAs của một số nước từ đó đề xuất cách thức để đơn giản hoá quy tắc xuất xứ hàng hoá nhằm tạo thuận lợi cho hoạt động thương mại. - Lili Yan Ing, Olivier Cadot (2014), “How Restrictive Are ASEAN’s RoO?” [79], ERIA-DP-2014-18, tác giả đi vào phân tích đánh giá ảnh hưởng của quy tắc xuất xứ sản phẩm cụ thể của ASEAN đối với thương mại khu vực qua việc sử dụng mô hình trọng lực.
Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng những ngành như dệt may, giày dép, thực phẩm chế biến, ô tô sẽ chịu ảnh hưởng nhiều của quy tắc xuất xứ với việc hưởng lợi từ việc giảm thuế. - Colleen Carroll, Dylan Geraets, Arnoud R. Willems, (2014), “Reconciling rules of origin and global value chains: the case for reform” [66], Leuven Centre for Global Governance Studies, Institute for International Law, KU Leuven. Tác giả chỉ ra những sai lầm trong quan niệm về xuất xứ hàng hoá, từ đó chỉ ra khái niệm xuất xứ hàng hoá và cách xác định thế nào đối với quy tắc xuất xứ ưu đãi và không ưu đãi, giải pháp cho sự phức tạp quy tắc xuất xứ hàng hoá trong việc làm chệnh hướng thương mại, công cụ bảo hộ và việc tận dụng trong các thoả thuận thương mại ưu đãi.
Từ đó, đánh giá về mối liên hệ giữa cắt giảm thuế quan hay gia tăng chi phi kinh doanh khi áp 15 dụng quy tắc xuất xứ và đề xuất các điểm cải cách quy tắc xuất xứ trong quan hệ song phương và hài hoà quy tắc xuất xứ trong quan hệ đa phương. - Lili Yan Ing, Olivier Cadot (2016), “Facilitating ASEAN trade in goods” [80], ERIA Discussion Paper Series, đi vào phân tích đánh giá những tác động tạo thuận lợi thương mại hàng hoá đối với các nước ASEAN qua việc giảm chi phí thương mại nhờ áp dụng các quy tắc xuất xứ hàng hoá cũng như minh bạch các biện pháp phi thuế quan.Nhóm các công trình nghiên cứu liên quan đến thuế quan và cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC). - Hiro Lee, Michael G.Plummer (2011), “Assessing the Impact of the ASEAN Economic Community”[74], OSIPP Discussion Paper: DP-2011-E- 002.