Chương 1: Quy tắc xuất xứ đối với hàng dệt may trong hệ thống thương mại quốc tế Chương 2: Cơ chế chứng nhận xuất xứ và những vấn đề pháp lý liên quan khi áp dụng trên thực tế 7 QUY TẮC XUẤT XỨ ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY TRONG HỆ THỐNG THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ 1.1 Quy tắc xuất xứ đối với hàng dệt may Quy tắc xuất xứ – ROO được hiểu là hệ thống các quy tắc được sử dụng để xác định “quốc tịch kinh tế” cho hàng hóa. Cụ thể ROO được định nghĩa trong Nghị định thư Kyoto và ARO4 là những “tiêu chí” có khả năng xác định được nguồn gốc của hàng hóa. Các “tiêu chí” này được tìm thấy trong pháp luật quốc gia hoặc Điều ước quốc tế nhưng việc áp dụng, thực thi phải ở cấp độ quốc gia, nghĩa là phải được quốc gia chứng nhận. Về cơ bản, quy tắc xuất xứ áp dụng cho ngành dệt may cũng dựa trên các tiêu chí ROO áp dụng chung cho hàng hóa, gồm: (i) quy tắc xuất xứ thuần túy (Wholly Obtained – WO); (ii) quy tắc xuất xứ không thuần túy5.
Dệt may được xem là một trong những ngành tương đối nhạy cảm đối với các nước đang phát triển6 do đó để xác định chính xác xuất xứ, một số quy tắc đặc biệt đã được thiết kế để áp dụng riêng đối với hàng dệt may, bao gồm: “từ sợi trở đi” (Fibre – Forward); “từ sợi dệt trở đi” (Yarn – Forward); và “từ vải trở đi” (Fabric – Forward). Các quy tắc này được hình thành dựa trên đặc điểm của quá trình tạo ra các sản phẩm dệt may gồm nhiều công đoạn, chế biến phức tạp như kéo sợi, dệt, nhuộm, cắt, may,. đồng thời sử dụng nguyên phụ liệu đa dạng như các loại vải, chỉ, khuy,. 4 Phụ lục D, hiện là Phụ lục K của Nghị định thư Kyoto 1973; Khoản 1 Điều 1 và Đoạn 2 Phụ lục 2 ARO.
5 Xuất xứ không thuần túy, với một phần nguyên liệu không có xuất xứ hoặc không xác định được xuất xứ. Đối với tiêu chí này, ROO quy định chi tiết hơn với các dạng như: Chuyển đổi mã số hàng hóa (CTC); Hàm lượng giá trị Khu vực (RVC); Công đoạn gia công chế biến cụ thể (SP); hoặc Tiêu chí tổng hợp 6 Dệt may là ngành có cơ hội phát triển mạnh, khả năng đem lại nguồn thu ngoại tệ lớn, là cơ sở để cho nền kinh tế có cơ hội cất cánh nhưng không đòi hỏi sự đầu tư lớn về công nghệ hay vốn. 8 Như vậy quy tắc xuất xứ được áp dụng đối với ngành dệt may sẽ bao gồm: ROO ĐỐI VỚI HÀNG DỆT MAY ROO áp dụng ROO áp dụng riêng cho chung dệt may Quy tắc xuất xứ Quy tắc xuất xứ Quy tắc từ sợi trở đi thuần túy - WO không thuần túy (Fibre – Forward) Quy tắc từ sợi dệt trở đi (Yarn – Forward) Quy tắc từ vải trở đi (Fabric – Forward) Hình 1: Các quy tắc xuất xứ hàng hóa áp dụng đối với hàng dệt may Tuy nhiên thực tiễn hệ thống thương mại hàng hóa quốc tế hiện nay cho thấy việc một sản phẩm dệt may đáp ứng tiêu chuẩn WO là bất khả thi7. Do đó trong phạm vi phần này, tác giả sẽ tập trung phân tích (i) quy tắc xuất xứ không thuần túy, (ii) quy tắc xuất xứ áp dụng riêng cho dệt may.1 Chuyển đổi mã số hàng hóa (Change in Tariff Classification – CTC) Chuyển đổi mã số hàng hóa là một trong những tiêu chí xác định xuất xứ dựa trên việc đánh giá yếu tố “biến đổi cơ bản” từ nguyên liệu đến sản phẩm cuối cùng.
CTC 7 Đối với phạm vi khóa luận, tác giả đề cập đến sản phẩm dệt may với sản lượng lớn ở quy mô công nghiệp, không gồm các sản phẩm dệt may thủ công truyền thống. 9 hoạt động dựa trên cơ sở sự phân loại hàng hóa theo Hệ thống hài hòa mô tả và mã hàng hóa (Harmonized system code – HS code). Theo đó, hàng hóa sẽ được coi là đã biến đổi cơ bản khi hàng hóa được phân loại trong một Chương, Nhóm hoặc Phân Nhóm (tùy thuộc vào từng mặt hàng cụ thể) khác với Chương, Nhóm hoặc Phân Nhóm của tất cả nguyên liệu đầu vào không có xuất xứ được sử dụng. Quy tắc CTC có những hình thức sau: Một là, Chuyển đổi Chương hay chuyển đổi cấp 2 số (Change in Chapter – CC): tiêu chí này yêu cầu mã HS của hàng hóa được xem xét phải thuộc Chương khác với Chương HS của tất cả các nguyên liệu không có xuất xứ được sử dụng để tạo nên sản phẩm.
Do đó khi áp dụng, một sản phẩm được xem là thỏa mãn CC khi 2 số đầu mã HS của hàng hóa khác với 2 số đầu mã HS của nguyên liệu. Hai là, Chuyển đổi Nhóm hay chuyển đổi cấp độ 4 số (Change in Tariff Heading – CTH): tiêu chí này yêu cầu mã HS của hàng hóa được xác định xuẩt xứ phải có mã HS thuộc Nhóm khác với Nhóm của tất cả các nguyên liệu không có xuất xứ được sử dụng. Trường hợp này, 4 số đầu mã HS của hàng hóa phải khác với 4 số đầu mã HS của nguyên liệu. Ba là, Chuyển đổi Phân Nhóm hay chuyển đổi cấp độ 6 số (Change in Tariff Sub- Heading – CTSH): cũng tương tự như hai tiêu chí trên, CTSH yêu cầu mã HS của hàng hóa được xem xét phải thuộc Phân Nhóm khác với Phân Nhóm của tất cả các nguyên liệu không có xuất xứ được sử dụng.
Do đó, 6 số đầu mã HS của hàng hóa phải khác với 6 số đầu mã HS của nguyên liệu. HS code phân loại hàng hóa theo trình tự từ Chương (HS cấp độ 2 số) đến Nhóm (HS cấp độ 4 số) và Phân Nhóm (HS cấp độ 6 số), do đó mức độ chặt chẽ của quy tắc CTC cũng tuân theo trình tự này. Cụ thể, tiêu chí CC là cấp độ chặt nhất, tiếp đến là CTH với mức độ vừa phải và mức độ lỏng nhất là CTSH. 10 Ngoài các tiêu chí CTC chuyển đổi thông thường như trên, CTC còn ghi nhận thêm tiêu chí “CTC ngoại trừ” (CTC ex from).
CTC ngoại trừ là việc loại trừ một số mã HS nhất định khi áp dụng phương pháp CTC để xác định xuất xứ của hàng hóa. Nếu mã HS của nguyên liệu trùng với mã HS được liệt kê tại phần “ngoại trừ” của mã HS thành phẩm thì trong trường hợp này, phương pháp CTC sẽ không được áp dụng và nguyên liệu đó bắt buộc phải chứng minh có xuất xứ từ các Bên thành viên của Hiệp định để thành phẩm được hưởng ưu đãi. Phần “ngoại trừ” có thể là ngoại trừ Chương; Ngoại trừ Nhóm; Ngoại trừ Phân Nhóm. Tiêu chí CTC ngoại trừ được áp dụng cho các tiêu chí CC, CTH và CTSH.
Do đó CTC ngoại trừ sẽ có các hình thức sau: CC ngoại trừ Chương/Nhóm/Phân Nhóm; CTH ngoại trừ Chương/Nhóm/Phân Nhóm; CTSH ngoại trừ Chương/Nhóm/Phân Nhóm. Ví dụ: Đối với mặt hàng Sợi (trừ chỉ khâu) từ xơ staple nhân tạo, đã đóng gói để bán lẻ thuộc Nhóm 55.11, RCEP và CPTPP quy định quy tắc xuất xứ như sau: RCEP CPTPP CTH ngoại trừ từ nhóm 55. CC ngoại trừ từ nhóm 52. Như vậy, để mặt hàng thuộc Nhóm 55.11 được xem là có xuất xứ RCEP thì tất cả nguyên liệu được sử dụng không có xuất xứ phải: (i) có 4 số đầu của mã HS khác với 55.11; và (ii) không được có nguyên liệu nào thuộc nhóm 55.
Trong trường hợp được chứng nhận là có xuất xứ CPTPP thì nguyên liệu không có xuất xứ phải thỏa tất cả các điều kiện sau: (i) tất cả không được thuộc Chương 55; (ii) nguyên liệu thuộc Chương 52 thì không được thuộc Nhóm 52.03; (iii) nguyên 11 liệu thuộc Chương 54 thì không được thuộc Nhóm 54. Vì sự loại trừ thêm một số lượng nguyên liệu thuộc các mã HS nhất định nên tiêu chí “CTC ngoại trừ” quy định mức độ xác định xuất xứ chặt chẽ hơn so với tiêu chí CTC thông thường. Do đó “CTC ngoại trừ” thường được các Bên thành viên của Hiệp định sử dụng cho một số loại hàng hóa nhất định, điển hình như hàng dệt may, thay vì áp dụng phổ biến như CTC thông thường.2 Hàm lượng giá trị khu vực (Regional Value Content – RVC) Bên cạnh CTC, tiêu chí về hàm lượng giá trị Khu vực cũng được quy định là một phương pháp xác định sự “biến đổi cơ bản” trong quá trình xác định xuất xứ của hàng dệt may. Quy tắc RVC yêu cầu giá trị gia tăng của hàng hóa xác định xuất xứ phải đạt đến một mức độ tối thiểu (được biểu thị bằng tỷ lệ giá trị phần trăm) ở trong khu vực nội địa của Hiệp định để được chứng nhận là có xuất xứ theo Hiệp định.
Mỗi Hiệp định sẽ quy định khác nhau về mức tỷ lệ phần trăm giá trị khu vực nhưng đa số các FTA hiện nay đều quy định giá trị này là 40%. Quy tắc RVC xác định giá trị gia tăng của hàng hóa thông qua việc xác lập các công thức tính cố định. Mỗi FTA sẽ quy định số lượng công thức khác nhau nhưng về cơ bản sẽ có 2 cách tính: (i) gián tiếp thông qua giá trị nguyên liệu không có xuất xứ (Build – down formula); (ii) trực tiếp thông qua nguyên liệu có xuất xứ (Build – up formula). Và khi chứng minh xuất xứ theo quy tắc RVC, doanh nghiệp có thể tự mình lựa chọn công thức tính.
Với phương pháp tính gián tiếp, chủ thể thực hiện cần xác định các chỉ số về giá trị hàng hóa (thông thường là giá FOB của hàng hóa) và tổng giá trị các nguyên liệu không có xuất xứ hoặc không xác định được xuất xứ. 12 Trị giá hàng hóa – Trị giá nguyên liệu không có RVC = xuất xứ hoặc không xác định được xuất xứ x 100 Trị giá hàng hóa Trong trường hợp áp dụng công thức tính RVC trực tiếp, chỉ cần xác định các giá trị của nguyên liệu có xuất xứ và trị giá hàng hóa. Công thức trực tiếp về cơ bản sẽ là sự đối chiếu giữa giá trị nguyên liệu có xuất xứ với trị giá hàng hóa thành phẩm. Trị giá nguyên liệu có xuất xứ RVC = x 100 Trị giá hàng hóa Có thể thấy, RVC là tiêu chí thể hiện rõ hướng tiếp cận của ROO thời kỳ mới khi chú trọng đến giá trị gia tăng của hàng hóa sau mỗi công đoạn thay vì đơn thuần xác định nơi mà sản phẩm trải qua quá trình chế biến cuối cùng như trước đây.3 Quy tắc xuất xứ áp dụng riêng Ngành dệt may có cấu trúc như một chuỗi cung ứng bao gồm một số hoạt động rời rạc.