Chương 1. Khái quát về chi phí được trừ trong tính thuế TNDN. Thực trạng áp dụng pháp luật về chi phí được trừ trong tính thuế TNDN. KHÁI QUÁT VỀ CHI PHÍ ĐƯỢC TRỪ TRONG TÍNH THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP 1.
Những vấn đề lý luận về chi phí được trừ trong tính thuế thu nhập doanh nghiệp 1. Sơ lược về thuế thu nhập doanh nghiệp Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới, thuế là khoản thu cơ bản và chủ yếu, là nguồn tài chính giúp duy trì sự tồn tại và phát triển của Nhà nước. Đồng thời, thuế còn là công cụ đắc lực giúp Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế và điều tiết thu nhập, thực hiện công bằng xã hội1. Trước bối cảnh Việt Nam đang thực hiện tiến trình hội nhập, toàn cầu hóa, tăng cường hợp tác kinh tế với các quốc gia trong khu vực và trên thế giới, thuế nắm vai trò chủ chốt trong việc điều tiết hoạt động ngoại thương, thúc đẩy xuất khẩu và bảo vệ sản xuất trong nước.
Hiện nay, hệ thống thuế của mỗi quốc gia tồn tại nhiều loại thuế khác nhau. Ở Việt Nam, căn cứ vào đối tượng chịu thuế, hệ thống thuế có thể được chia thành ba nhóm như sau: (i) Thuế thu vào hàng hóa, dịch vụ; (ii) Thuế thu vào thu nhập và (iii) Thuế thu vào hành vi khai thác, sử dụng một số tài sản thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện thực hiện quyền chủ sở hữu như tài nguyên thiên nhiên, đất đai. Mỗi loại thuế đều có vai trò và chức năng riêng biệt, từ đó hợp thành tầm quan trọng chung của thuế đối với nền kinh tế. Thuế TNDN là một loại thuế thuộc nhóm thuế thu vào thu nhập.
Tùy vào quy định pháp luật của từng quốc gia mà sắc thuế này có nhiều tên gọi khác nhau như thuế công ty (corporation tax), thuế thu nhập công ty (corporation income tax), thuế lợi tức (profit tax) hay thuế lợi tức công ty (corporation profit tax), nhưng tất cả chúng đều đang mô tả loại thuế trực thu có đối tượng chịu thuế chính là thu nhập phát sinh từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của các tổ chức2. Theo định nghĩa của Từ điển đầu tư điện tử – Investopedia thì “Thuế công ty là loại thuế được đánh trên lợi nhuận của tổ chức kinh doanh để thu thuế. Sau khi thu nhập có được từ hoạt động kinh doanh được tính bằng việc khấu trừ đi các chi phí bao gồm chi phí trị giá của hàng hóa bán ra (COGS) và sự rớt giá từ doanh thu, và mức thuế suất đã được ban hành được áp dụng được ấn định là cơ sở để xác định số thuế mà doanh nghiệp phải nộp Nhà nước. Các quy định về thuế công ty của các nước trên thế giới rất khác nhau và nó phải được Nhà nước biểu quyết và thông qua và 1 Trường Đại học Luật Tp.
Hồ Chí Minh (2014), Giáo trình Luật Thuế, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr. 2 Bộ Tài chính (2017), “Chuyên đề 9: Thuế và quản lý thuế nâng cao”, Tài liệu ôn thi Kế toán viên và Kiểm Toán viên năm 2017, tr. 6 được Nhà nước chấp thuận ban hành luật”3. Cụ thể hơn, Wikipedia nêu: “Thuế công ty là loại thuế trực thu được đưa ra bởi cơ quan có thẩm quyền để đánh vào thu nhập hoặc vốn của doanh nghiệp hay tổ chức khác có tư cách pháp nhân”4.
Dưới góc độ pháp lý, theo quy định của pháp luật Việt Nam, thuế TNDN là sắc thuế đánh vào những khoản thu nhập có được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tổ chức kinh doanh và phi kinh doanh trong xã hội5. Thuế TNDN là một sắc thuế vô cùng quan trọng, không chỉ có ý nghĩa đối với NSNN, mà còn thúc đẩy đầu tư, phát triển kinh tế. Nó tác động tới sự phân phối thu nhập, tiền lương, tác động đến khả năng khai thác thu hút vốn đầu tư, tác động tới việc di chuyển vốn và có thể làm thay đổi cơ cấu nền kinh tế… Do tác động của thuế TNDN rất lớn nên việc hoàn thiện pháp luật về thuế TNDN là điều mà tất cả các nước đều hướng tới6. Để có thể thực hiện được mục đích đó, các nhà làm luật cần chú ý các đặc trưng của thuế TNDN sau đây.
Thứ nhất, thuế TNDN là loại thuế trực thu. Tính trực thu của sắc thuế này được thể hiện rõ nhất thông qua sự đồng nhất về đối tượng nộp thuế theo luật và đối tượng trả thuế theo ý nghĩa kinh tế7. Có nghĩa là vào thời điểm đánh thuế, đối tượng nộp thuế TNDN không thể chuyển giao nghĩa vụ nộp thuế của mình cho bất kỳ đối tượng nào khác. Trong khi đó, các loại thuế gián thu như thuế giá trị gia tăng, thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu có đối tượng nộp thuế luật định là chủ thể có nghĩa vụ thực hiện hành vi đăng ký, khai thuế, nộp thuế, quyết toán thuế vào NSNN.
Cụ thể là các chủ thể thực hiện hành vi sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, xuất khẩu các loại hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế theo quy định pháp luật của loại thuế đó8. Còn đối tượng trả thuế, tức là người chịu thuế gián thu lại chính là người tiêu dùng, người sử dụng hàng hóa, dịch vụ9. Ví dụ: Doanh nghiệp A năm 2016 có tổng thu nhập (sau khi đã trừ các loại chi phí và lỗ) là 100.000 đồng (một trăm triệu đồng), và doanh nghiệp A không thuộc các trường hợp được miễn giảm hay hưởng ưu đãi về thuế TNDN. Khoản thu nhập 100.000 đồng của doanh nghiệp A chính là đối tượng chịu thuế TNDN, và doanh nghiệp A chính là đối tượng nộp thuế.
Như vậy, thuế TNDN điều tiết vào chính thu nhập của doanh nghiệp A. Theo đó, thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp 3 Corporate tax, http://www.com/terms/c/corporatetax.asp, truy cập ngày 12/6/2017. 4 Corporate tax, https://en.org/wiki/Corporate_tax, chỉnh sửa lần cuối ngày 03/6/2017, truy cập ngày 12/6/2017. 5 Trường Đại học Luật Tp.
Hồ Chí Minh (2014), Tlđd, tr. 6 Trường Đại học Luật Hà Nội (2016), Giáo trình Luật thuế Việt Nam, Nhà xuất bản Công an Nhân dân, tr. 7 Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2014), Tlđd, tr.
8 Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2014), Tlđd, tr. 9 Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2014), Tlđd, tr.
7 A càng cao thì số tiền thuế phải nộp càng lớn và ngược lại. Đây chính là đặc trưng tiêu biểu cho vai trò điều tiết thu nhập, đảm bảo công bằng xã hội của thuế TNDN. Thứ hai, đối tượng chịu thuế của thuế TNDN là các khoản thu nhập hợp pháp của doanh nghiệp. Đó là thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ và các khoản thu nhập khác10.
Theo đó, thu nhập phát sinh từ hoạt động sản xuất hàng hóa, cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp được xem là thu nhập chính. Đây chính là các khoản thu nhập phát sinh từ những ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp được doanh nghiệp đăng ký với cơ quan có thẩm quyền về đăng ký kinh doanh hoặc trong các chấp thuận cụ thể đối với một số ngành nghề hạn chế kinh doanh hoặc kinh doanh có điều kiện. Các khoản thu nhập khác chịu thuế TNDN là những khoản thu mà doanh nghiệp có được từ hoạt động khác không liên quan đến ngành nghề sản xuất, kinh doanh chính của doanh nghiệp, như thu nhập từ chuyển nhượng vốn, thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản hay thu nhập từ lãi tiền gửi, cho vay vốn, bán ngoại tệ,… Đây là những khoản thu nhập tuy không phát sinh trực tiếp từ hoạt động chính của doanh nghiệp, không mang tính thường xuyên nhưng được hình thành trong quá trình doanh nghiệp tìm kiếm nguồn thu. Chúng xuất hiện trong quá trình doanh nghiệp tồn tại, hoạt động gắn với chủ sở hữu thu nhập là doanh nghiệp (tổ chức) nên thuộc đối tượng chịu thuế TNDN11.
Bởi nếu Nhà nước không đánh thuế đối với những khoản thu nhập khác này sẽ dẫn đến thất thu ngân sách; đồng thời, các khoản thu nhập khác vẫn là thu nhập hợp pháp của doanh nghiệp, phát sinh trong quá trình tìm kiếm các khoản thu chính, phục vụ mục đích cuối cùng của mọi doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận, vì mục đích thương mại nên vẫn phải chịu thuế TNDN. Thứ ba, đối tượng nộp thuế TNDN là các tổ chức hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế theo quy định của pháp luật về thuế TNDN. Những đối tượng này không chỉ đơn thuần là doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài, mà còn bao gồm các tổ chức khác không phải là doanh nghiệp nhưng có thực hiện hoạt động sản xuất, kinh doanh như hợp tác xã, đơn vị sự nghiệp công lập và những tổ chức khác có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập12. Với những đặc điểm cơ bản nêu trên, thuế TNDN có tác động sâu sắc đến toàn bộ nền kinh tế.
Theo đó, nếu những quy định về thuế TNDN được ban hành một các phù hợp, nó không chỉ đảm bảo nguồn thu cho NSNN, mà còn góp phần 10 Khoản 1 Điều 3 Luật Thuế TNDN 2008. 11 Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2014), Tlđd, tr. 12 Khoản 1 Điều 2 Luật Thuế TNDN (Luật số 14/2008/QH12) ngày 03/6/2008.
8 thu hút đầu tư, tạo thuận lợi cho các đối tượng kinh doanh gia nhập thị trường, đảm bảo sự công bằng trong quá trình điều tiết thu nhập. Ngược lại, nếu quy định về thuế TNDN có nhiều nội dung không phù hợp như thuế suất cao, cách tính thu nhập tính thuế không rõ ràng, cách chuyển lỗ phức tạp, hay có nhiều chi phí hợp lý không được trừ vào thu nhập chịu thuế… sẽ kìm hãm sự phát triển của doanh nghiệp. Từ đó có thể dẫn đến sự mất niềm tin của doanh nghiệp vào chủ trương kinh tế của Nhà nước, làm chậm tốc độ tăng trưởng kinh tế quốc gia. Chính vì vậy, hoàn thiện pháp luật về thuế TNDN là một yêu cầu vô cùng cấp thiết, đòi hỏi các nhà làm luật phải đầu tư nghiên cứu kỹ lưỡng để ban hành những quy định phù hợp nhất.
Trong đó, một trong các nội dung trung tâm phải hoàn thiện là các quy định của pháp luật về căn cứ tính thuế TNDN, đặc biệt là những chi phí được trừ trong tính thuế TNDN – một thành tố quan trọng để xác định thu nhập chịu thuế. Khái niệm chi phí hợp lý được trừ trong tính thuế thu nhập doanh nghiệp Trong quá trình sản xuất, kinh doanh, các tổ chức kinh doanh và các tổ chức khác có tiến hành hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ (gọi chung là doanh nghiệp) phải tiến hành rất nhiều những hoạt động mang tính chất đầu tư nhằm tạo ra lợi nhuận.