Lời mở đầu Hiệp định thành lập WTO ghi nhận “S cần thi t đ i với các nỗ l c tích c c nhằm đ m b o c c n ớc đang 21 - General Agreement on Trade in Services (GATS). 15 phát triển, đặc biệt là c c n ớc kém phát triển nh t có đ c l i ích t s phát triển c a th ơng mại qu c t ”. Các Hiệp định khác như Hiệp định nông nghiệp, Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT)22, và Hiệp định chống bán phá giá thì kêu gọi các Thành viên “Xem xét một cách toàn diện”23, “Dành s chú ý đặc biệt”24 và thực hiện “Quan tâm đặc biệt”25 đối với các nhu cầu cụ thể của các nước đang phát triển khi thi hành các Hiệp định trên. Các điều khoản bắt buộc ví dụ điển hình là Điều 10 Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS)26: “ hi chuẩn bị và áp dụng các biện pháp vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động th c vật, Các Thành viên cần xem xét tới các nhu cầu đặc biệt c a c c Thành vi n đang ph t triển, và đặc biệt biệt là các Thành viên kém phát triển nh t” Tương tự, Điều 12 Hiệp định TBT quy định các Thành viên “Cần dành s chú ý đặc biệt tới c c điều kho n c a Hiệp định này li n quan đ n quyền và nghĩa vụ c a các n ớc đang ph t triển và cần tính đ n nhu cầu phát triển, tài chính và th ơng mại đặc biệt c a c c Thành vi n đang ph t triển” Tuy nhiên, trên thực tế các điều khoản này không có mấy tác dụng.
Như điều 10 Hiệp định SPS có quy định nghĩa vụ bắt buộc nhưng lại không có mục tiêu cụ thể và ít có tác dụng bắt buộc các Thành viên phát triển đặt ưu tiên xem xét các vấn đề của các nước đang phát triển khi áp dụng các biện pháp theo Hiệp định SPS. Tương tự như vậy, Điều 12 Hiệp định TBT không quy định nghĩa vụ bắt buộc cụ thể nào đối với các Thành viên phát triển phải xem xét các tác động đối với các Thành viên đang phát triển. Cả hai Điều khoản trên đều không có quy định cụ thể việc gỡ bỏ hay thay đổi các biện pháp áp dụng đối với các Thành viên đang phát triển khi các Thành viên này chứng minh được ảnh hưởng của các biện pháp ấy đối với nước mình. Nhóm các điều khoản cho phép các nước đang phát triển linh hoạt trong việc thực hiện các cam kết cũng như chính sách thương mại.
Các điều khoản thuộc nhóm này quy định các nước đang phát triển được quyền miễn trừ khỏi các quy định chung của WTO áp dụng một cách thông thường cho các Thành viên. Bên cạnh đó, các điều khoản SDT thuộc nhóm này cũng cho phép các 22 - Agreement on Techinal Barrier on Trade (TBT). 23 - Lời mở đầu Hiệp định nông nghiệp.2 Hiệp định TBT. 25 - Điều 15 Hiệp định chống bán phá giá.
26 - Agreement on the Application of Sanitary and Phytosanitary Measures (SPS). 16 Thành viên là nước đang phát triển được miễn trừ khỏi các cam kết, hoặc thể hiện dưới dạng các nước đang phát triển được giảm mức độ của các cam kết theo các Hiệp định của WTO, so sánh với mức độ cam kết của các Thành viên thông thường. Các điều khoản thuộc nhóm này cũng xuất hiện ở nhiều Hiệp định của WTO, điển hình như Điều XVII, XXXVI GATT 1994, GATS, TBT, Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng… Nhóm các điều khoản quy định thời gian chuyển tiếp lâu hơn cho các nước đang phát triển. Các nước đang phát triển có thể sử dụng các điều khoản cho phép kéo dài thời gian thực thi các cam kết theo các Hiệp định của WTO.
Sự linh hoạt trong thời gian chuyển tiếp được quy định trong tất cả các Hiệp định của WTO ngoại trừ Hiệp định chống bán phá giá và Hiệp định về kiểm tra hàng hoá trước khi gửi hàng. Cơ sở của việc cho thời gian chuyển tiếp kéo dài là sự yếu kém về năng lực thể chế của các nước đang phát triển và các nước LDC. Và như vậy thời gian chuyển tiếp dài hơn sẽ tạo điều kiện cho các nước này củng cố và nâng cao khả năng trong việc đáp ứng các yêu cầu và cam kết theo WTO. Ví dụ như trong trường hợp của duy trì trợ cấp, việc cho phép duy trì trợ cấp nhằm tạo điều kiện cho các nước đang phát triển thời gian cần thiết để áp dụng các biện pháp thay thế khác được cho phép theo quy định của các Hiệp định.
Trong hầu hết các trường hợp, sự linh hoạt thể hiện ở chỗ các Thành viên là nước đang phát triển được tạm hoãn thực hiện một số điều khoản hoặc một phần của điều khoản nào đó trong một Hiệp định. Ví dụ, trong Hiệp định về các khía cạnh thương mại liên quan đến quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS)27 cho phép các nước đang phát triển hoãn thực hiện 5 năm và với các nước LDC là 11 năm nhằm sửa đổi pháp luật nội địa phù hợp với các quy định của TRIPS. Nhóm các điều khoản quy định về hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển. Tương tự như nhóm các điều khoản về thời gian chuyển tiếp, các điều khoản SDT về hỗ trợ kỹ thuật nhằm mục đích giúp đỡ các Thành viên nâng cao năng lực thể chế và khả năng đáp ứng được các yêu cầu trong việc thực hiện các quy định của WTO đặc biệt là đối với các nước đang phát triển và các nước LDC.
Hỗ trợ kỹ thuật cung cấp cho các nước đang phát triển thể hiện dưới nhiều hình thức ví dụ như hỗ trợ tài chính, hỗ trợ đào 27 - The Agreement on Trade Related Aspects of Intellectual Property Rights (TRIPS). 17 tạo nguồn nhân lực, hỗ trợ xây dựng pháp luật…Lấy Hiệp định TRIPS làm ví dụ, tại Điều 67 có quy định như sau: “Nhằm tăng c ờng kh năng th c hiện Hiệp định này, Thành vi n là c c n ớc phát triển cần h p tác, theo yêu cầu hoặc tho thuận song ph ơng và c c điều kiện khác, kỹ thuật và tài chính với Thành vi n là c c n ớc đang và ém ph t triển nh t, s h p tác này bao gồm c s tr giúp trong việc soạn th o pháp luật và c c quy định về b o hộ và th c thi quyền sở hữu trí tuệ ” Các Hiệp định khác cũng có các điều khoản quy định về vấn đề này có thể kể tới Điều 11 và Điều 12.7 Hiệp định TBT, Điều 9 Hiệp định SPS, Điều 1.2 Hiệp định về kiểm tra hàng hoá trước khi gửi hàng, và Điều 27.2 Cơ chế giải quyết tranh chấp. Mục đích chính của các loại hỗ trợ này nhằm tăng cường năng lực thể chế của các nước đang phát triển trong việc thực hiện các yêu cầu cũng như các cam kết theo các Hiệp định của WTO. Các lĩnh vực nhận được ưu tiên hỗ trợ kỹ thuật được quy định trong các Hiệp định TBT, Hiệp định SPS, Hiệp định định giá hải quan, Cơ Cơ chế giải quyết tranh chấp, Hiệp định kiểm tra hàng hoá trước gửi hàng và Hiệp định TRIPS.
Trong hầu hết các trường hợp, các điều khoản về hỗ trợ kỹ thuật yêu cầu các loại hỗ trợ được cung cấp theo đề nghị của các nước đang phát triển và các nước LDC với các điều kiện phù hợp. Cơ sở của các điều khoản hỗ trợ kỹ thuật là quan điểm cho rằng sự hạn chế về mặt thể chế là vấn đề cốt lõi trong việc đảm bảo sự hội nhập thương mại quốc tế của các nước đang phát triển và các nước LDC. Trong khi việc ban hành các chính sách nhằm tự do hóa thương mại là dễ dàng thì việc phát triển năng lực thực hiện và tận dụng các cơ hội từ thương mại quốc tế là khó khăn hơn nhiều. Sự thiếu hụt nguồn nhân lực trình độ cao và cơ sở hạ tầng yếu là vấn đề lớn cản trở sự phát triển và tận dụng các lợi ích mà thương mại quốc tế đem lại.
Thực hiện các quy định của các điều khoản thuộc nhóm này, hỗ trợ kỹ thuật đã được các nước phát triển cũng như các tổ chức quốc tế cung cấp cho các nước đang phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh tác dụng của nó giúp các nước đang phát triển có điều kiện hoàn thiện cơ sở hạ tầng kỹ thuật và đào tạo nhân lực, các biện pháp hỗ trợ kỹ thuật còn nhiều hạn chế nổi bật là không đạt được thành công trong việc gia tăng sự hội nhập của các nước đang phát triển và các biện pháp hỗ trợ kỹ thuật không được xây dựng căn cứ vào tình hình cụ thể của từng nước dẫn đến tác dụng của nó không nhiều trong việc nâng cao năng lực của các nước đang phát triển. Nhóm các điều khoản dành riêng cho các nước LDC. 18 Điều kho n u đãi 1979 đã tạo cơ sở cho việc áp dụng quy định SDT đối với các nước LDC.
Các Hiệp định của WTO có 24 điều khoản áp dụng cho các nước LDC28 bên cạnh các điều khoản áp dụng chung cho cả các nước đang phát triển. Các điều khoản SDT thuộc nhóm này thường quy định các ưu đãi cho các nước LDC hơn hẳn ưu đãi dành cho các nước đang phát triển, hầu như các nước LDC được miễn trừ khỏi tất cả các cam kết theo quy định của WTO. Ví dụ như trong các Hiệp định TRIPS, SPS và Hiệp định nông nghiệp miễn trừ các nước LDC khỏi tất cả các cam kết mang tính giảm và loại bỏ; Hiệp định trợ cấp cho phép các nước LDC áp dụng dài hạn các biện pháp trợ cấp xuất khẩu. Một số ưu đãi cho các nước LDC đã được thực hiện từ khi WTO được thành lập.
Quy t định về các biện ph p u đãi cho c c n ớc kém phát triển nh t thông qua năm 1994 cho phép các Thành viên LDC hạn chế số lượng các cam kết và nhượng bộ phù hợp với mức độ phát triển, tình hình kinh tế-tài chính và năng lực pháp chế của mình. Đây là nhóm các điều khoản SDT bổ sung cho năm nhóm trên và các điều khoản thuộc nhóm này chỉ được áp dụng cho các nước LDC. Tất cả các điều khoản trong nhóm này đều nằm trong một trong năm nhóm như đã nói ở trên. So với các nước đang phát triển thì quy định về SDT cho các nước LDC rộng hơn và tính ưu đãi cao hơn xuất phát từ thực tế phát triển và năng lực của nền kinh tế các nước này.