phần mở đầu và phần kết luận, luận văn chia thành 3 chƣơng gồm: Chƣơng 1: Lý luận chung về cổ đông sáng lập trong công ty cổ phần Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật về cổ đông sáng lập trong công ty cổ phần và một số kiến nghị hoàn thiện 4 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ CỔ ĐÔNG SÁNG LẬP TRONG CÔNG TY CỔ PHẦN 1. Khái quát về công ty cổ phần 1. Khái niệm công ty cổ phần Từ thời La Mã cổ đại, các nhà buôn đã biết hùn vốn với nhau để làm ăn và chia lời lãi từ công việc kinh doanh, đồng thời họ chấp nhận mất đi phần vốn đã bỏ ra nếu công việc kinh doanh gặp trở ngại. Hình ảnh này cũng giống với việc ngƣời ta mua cổ phần ở các công ty cổ phần ngày nay, và đó chính là những ý tƣởng sơ khai trong việc hình thành công ty cổ phần hiện đại sau này.
Công ty cổ phần xuất hiện đầu tiên trên thế giới là công ty Đông Ấn của Anh vào năm 1600. Trong quá trình công nghiệp hoá ở các nƣớc châu Âu và Bắc Mỹ từ thế kỷ 18, 19 cùng với nhu cầu tích tụ vốn để đầu tƣ của các nhà tƣ bản đã giúp phát triển loại hình công ty cổ phần. Sự phát triển mạnh mẽ của Chủ nghĩa Tƣ bản đòi hỏi sản xuất kinh doanh phải có quy mô ngày càng to lớn, cạnh tranh và độc quyền có mức độ ngày càng gay gắt. Các chủ tƣ bản đi đến thỏa hiệp với nhau nhằm thu đƣợc lợi nhuận tối đa và bành trƣớng hơn nữa thế lực kinh tế của mình.
Công ty cổ phần là hình thức kinh doanh thỏa mãn đƣợc những nhu cầu này, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hút và tập trung tƣ bản1. Hiện nay, công ty cổ phần có thể đƣợc xem là phƣơng thức phát triển cao nhất của loài ngƣời để huy động vốn cho kinh doanh và qua đó làm cho nền kinh tế của mỗi quốc gia phát triển. Theo cách hiểu thông thƣờng, công ty cổ phần đƣợc xem là một tổ chức thành lập theo pháp luật trong đó vốn đƣợc chia làm nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, ngƣời sở hữu cổ phần của công ty đƣợc gọi là cổ đông, cổ đông có thể là cá nhân hay tổ chức và chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Công ty cổ phần mang bản chất là công ty đối vốn quy tụ các cổ đông có thể là những ngƣời 1 Xem: Các Mác, Tƣ bản, quyển 1, tập III, Nxb.
Sự thật, Hà Nội, 1975, tr.199 5 không quen biết nhau, tùy theo pháp luật của mỗi quốc gia có quy định về số lƣợng tối thiểu nhƣng thƣờng không hạn chế số lƣợng tối đa. Nghiên cứu lịch sử lập pháp Ở Việt Nam về doanh nghiệp, có thể thấy rằng công ty cổ phần đƣợc định nghĩa có sự khác nhau qua các văn bản quy phạm pháp luật, cụ thể nhƣ trong Luật Công ty 1990, công ty cổ phần đƣợc định nghĩa là công ty, trong đó số cổ đông mà công ty phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là bảy, vốn điều lệ của công ty đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu, và mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiểu, cổ phiếu đƣợc phát hành có thể có ghi tên hoặc không ghi tên, riêng cổ phiếu của sáng lập viên, của thành viên Hội đồng quản trị phải là những cổ phiếu có ghi tên, đối với cổ phiếu không ghi tên đƣợc tự do chuyển nhƣợng, còn cổ phiếu có ghi tên chỉ đƣợc chuyển nhƣợng nếu đƣợc sự đồng ý của Hội đồng quản trị.2 Sau đó, Luật Doanh nghiệp năm 1999 đƣợc ban hành đã có cách nhìn nhận khác về công ty cổ phần, theo đó công ty cổ phần là doanh nghiệp, trong đó vốn điều lệ đƣợc chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần, cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp, cổ đông có quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần của mình cho ngƣời khác, đồng thời cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân và số lƣợng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lƣợng tối đa. Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng theo quy định của pháp luật về chứng khoán, đồng thời công ty cổ phần có tƣ cách pháp nhân kể từ ngày đƣợc cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh3. Nhƣ vậy, so với Luật Công ty 1990, Luật Doanh nghiệp 1999 đã định nghĩa cụ thể hơn về công ty cổ phần và có một số thay đổi cơ bản nhƣ về số lƣợng cổ đông tối thiểu phải có trong suốt quá trình hoạt động của công ty cổ phần là 3 cổ đông, 2 Xem: Điều 30 Luật Công ty 1990 3 Xem: Điều 51 Luật Doanh nghiệp 1999 6 trong khi Luật Công ty 1999 là 7 cổ đông.
Ngoài ra, quy định trong Luật Doanh nghiệp 1999 đã khẳng định quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần của cổ đông, còn trong Luật Công ty 1990 hạn chế chuyển nhƣợng đối với cổ phiếu có ghi tên. Đặc biệt, Luật Doanh nghiệp 1999 cũng đã khẳng định công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán ra công chúng, đây là nét đặc trƣng cơ bản của công ty cổ phần, tuy nhiên trong khái niệm ở Luật Công ty 1990 lại không đề cập. Luật Doanh nghiệp 2005 đã thống nhất định nghĩa công ty cổ phần, về cơ bản cũng giống nhƣ quy định của Luật Doanh nghiệp 1999 nhƣng câu chữ có phần giải thích rõ ràng hơn, khẳng định quyền tự do chuyển nhƣợng cổ phần của cổ đông có thể bị hạn chế trong một số trƣờng hợp pháp luật quy định 4. Vá mới đây nhất, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đang có hiệu lực thi hành tiếp tục kế thừa định nghĩa về công ty cổ phần trong Luật Doanh nghiệp 2005 khi không có sƣ thay đổi nào trong định nghĩa về công ty cổ phần.5 Nhƣ vậy, theo quy định pháp luật Việt Nam định nghĩa về công ty cổ phần, chúng ta có thể hiểu rằng công ty cổ phần là một tổ chức có tƣ cách pháp nhân, là loại hình công ty có tính tổ chức cao, hoạt động mang tính xã hội cao.
Công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản của công ty, các thành viên công ty chỉ chịu trách nhiệm đối với các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn họ đã góp cho công ty. Vốn cơ bản của công ty đƣợc chia thành các cổ phần, và trong quá trình hoạt động công ty cổ phần đƣợc phát hành các loại chứng khoán ra thị trƣờng để công khai huy động vốn trong công chúng, do đó sự ra đời của công ty cổ phần gắn liền với sự ra đời của thị trƣờng chứng khoán. Nhờ vậy mà việc chuyển nhƣợng phần vốn góp đƣợc thực hiện dễ dàng thông qua hành vi bán cổ phiếu trên thị trƣờng chứng khoán. Công ty cổ phần có số lƣợng thành viên rất đông, có công ty có tới hàng vạn cổ đông trên khắp thế giới, vì vậy nó có khả năng huy động vốn rộng 4 Xem: Điều 77 Luật Doanh nghiệp 2005 5 Xem: Điều 110 Luật Doanh nghiệp 2014 7 rãi nhất trong công chúng để đầu tƣ vào nhiều lĩnh vực khác nhau, đặc biệt là trong công nghiệp.
Tham khảo pháp luật một số nƣớc trên thế giới, chúng ta thấy rằng công ty cổ phần ở các nƣớc khác nhau có thể có những cách hiểu và tên gọi khác nhau. Cụ thể nhƣ: - Ở Pháp, công ty cổ phẩn đƣợc gọi là công ty vô danh, và để thành lập công ty này các sáng lập viên phải đáp ứng những điều kiện chung mà thông thƣờng các công ty phải tuân theo nhƣ ý chí, năng lực, ngành nghề, vốn góp, mục đích, sự tham gia vào kết quả kinh doanh, ngoài ra công ty cổ phần cần phải tuân thủ một số điều kiện đặc trƣng nhƣ số lƣợng cổ đông ít nhất là 7 cổ đông, cổ đông không cần phải có tƣ cách thƣơng nhân. Bên cạnh đó, ở Pháp để đầu tƣ kinh doanh dƣới hình thức một công ty cổ phần, các nhà đầu tƣ còn có thể hoạt động dƣới các dạng công ty cổ phẩn khác, đó là công ty hợp vốn cổ phần và công ty cổ phần đơn giản. Hai loại hình công ty này ra đời nhằm tăng thêm sự phong phú trong việc lựa chọn loại hình công ty để kinh doanh, đồng thời loại hình công ty này có thể khắc phục đƣợc những hạn chế của loại hình công ty kia và ngƣợc lại6.
- Ở Úc, pháp luật không quy định loại hình công ty cổ phần mà theo Đạo luật công ty 2001, các nhà đầu tƣ có quyền đăng ký thành lập công ty theo 2 loại, đó là công ty sở hữu chủ (proprietary company) và công ty công cộng (public company). Theo đó, công ty sở hữu chủ không đƣợc có nhiều hơn 50 thành viên không phải là ngƣời lao động của công ty, trong khi đó, các công ty công cộng thì không bị hạn chế số lƣợng thành viên. Trong thực tế, hầu hết các công ty sở hữu chủ đƣợc xếp vào loại kinh doanh nhỏ, chúng có số lƣợng thành viên ít và họ thƣờng có mối quan hệ gia đình với nhau. Trong khi đó, chỉ có công ty công cộng mới có quyền huy động vốn bằng việc phát hành cổ phiếu ra công chúng.
6 Lê Minh Phiếu (2006), Các loại hình doanh nghiệp phổ biến ở Pháp, Tạp chí Khoa học Pháp lý số 4/2006 8 Nhƣ vậy, tuy ở Úc không tồn tại công ty cổ phần nhƣng việc pháp luật Úc quy định công ty công cộng đƣợc quyền phát hành cổ phiếu ra công chúng để huy động vốn thì có thể khẳng định rằng loại hình công ty này cũng có những nét đặc trƣng nhƣ công ty cổ phần ở các nƣớc khác. Cụ thể, công ty công cộng có thể đƣợc đăng ký kinh doanh dƣới 4 hình thức gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn bởi cổ phiếu (company limited by shares), công ty trách nhiệm hữu hạn bởi sự bảo đảm (company limited by guarantee), công ty trách nhiệm vô hạn (unlimited company with share capital), và công ty không trách nhiệm (No liability company). Từng loại hình cụ thể có những nét đặc trƣng riêng tạo nên sự phong phú trong việc lựa chọn hình thức kinh doanh phù hợp7.