Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ XUNG ĐỘT TRONG TỔ CHỨC 1. Khái niệm và các quan điểm về xung đột 1.1 Khái niệm xung đột và quản trị xung đột ● Xung đột Theo Stephen Robbins (2012) “Một quy trình bắt đầu khi một bên nhận thấy rằng bên kia có ảnh hưởng tiêu cực tới điều gì đó bên thứ nhất đang quan tâm.” ⇨ Stephen định nghĩa xung đột đơn giản như một sự căng thẳng, Theo tác giả Nguyễn Hữu Lam (2002) “Xung đột là hiện tượng xảy ra khi hai hay nhiều phía đưa ra các hành động không tương đồng.” ● Quản trị xung đột Quản trị xung đột là quá trình giới hạn tiêu cực khía cạnh của xung đột trong khi làm tăng lên khía cạnh tích cực của xung đột. Mục đích của quản trị xung đột là để nâng cao kết quả làm việc nhóm, kể cả hiệu quả hoặc hiệu suất trong thiết lập tổ chức. Quản lý xung đột thích hợp nhằm mục tiêu cải thiện kết quả nhóm.
(Theo Wikipedia) Tóm lại, xung đột là hiện tượng bất đồng về quan điểm và hành động của các bên trong một vấn đề nào đó. Nghiên cứu về xung đột và quản trị xung đột nhằm tìm ra phương pháp làm tăng tính tích cực và hạn chế những tiêu cực mà xung đột gây ra cho tổ chức.2 Các quan điểm về xung đột Nghiên cứu về xung đột, người ta đưa ra các quan điểm khác nhau. Theo thời gian, đã có sự chuyển đổi trong quan điểm nhìn nhận về xung đột, cụ thể: ● Quan điểm của trường phái truyền thống về xung đột (Traditional school view of Conflict) Quan điểm này nhìn nhận xung đột là xấu và gây hại cho tổ chức vì nó đại diện cho những hành vi lệch lạc và gây rối, cần được lợi bỏ nếu muốn đạt được mục tiêu của tổ chức. Các tình huống xung đột có thể gây ra hậu quả xấu cho một số người và ảnh hưởng xấu đến hoạt động của tổ chức.
Cả phương pháp quản lý chuyên sâu và trường phái quản trị hành chính đều phụ thuộc rất nhiều vào việc phát triển các cấu 9 trúc tổ chức như chỉ định các nhiệm vụ, quy tắc, quy định và khắc phục các vấn đề về xung đột. ● Quan điểm của trường phái mối quan hệ con người về xung đột (Human Relations school view of Conflict) Theo lý thuyết của trường phái này, xung đột có thể tránh được bằng cách tạo ra môi trường thiện chí và tin tưởng lân nhau. Các nhà quản lý phải luôn quan tâm đên việc tránh xung đột, giải quyết sớm nhất có thể nếu xung đột xảy ra. ● Quan điểm của trường phái tương tác về xung đột (The Interactionist school view of Conflict) Townsend (1985) nhìn nhận xung đột như một dấu hiệu của một tổ chức phát triển.
Theo ông, một nhà quản lý tốt sẽ không cố gắng loại bỏ xung đột mà sẽ tận dụng những lợi ích mà xung đột trong mối quan hệ của tổ chức. Trong một tổ chức, nếu như viên đấu tranh một cách cởi với quản lý khi nghĩ rằng chính quản lý của minh sai thì đó là tích cực. Cách tiếp cận này khuyến khích mức độ xung đột tối thiểu trong nhóm để ưu tiên tự phê bình, thay đổi và đổi mới để giúp ngăn chặn sự thờ ơ làm việc hoặc tạo ra sự khoan dung bằng cách giải quyết bằng hòa hợp hoặc nghiêm khắc. Quan điểm này đề cập rất ít giá trị của xung đột tao ra trong tổ chức.
● Quan điểm của trường phái hội nhập về xung đột (Integretionist school view of Conflict) Đây là quan điểm về xung đột mới nhất và chỉ ra rằng không nên nhìn nhận một vài xung đột là tích cực hay tiêu cực mà các xung đột đó nên nhìn nhận ở khía cạnh hoàn toàn cần thiết để tạo hiệu quả làm việc nhóm. Phân loại xung đột 2.1 Phân loại theo chức năng của xung đột 2.1 Xung đột chức năng Xung đột chức năng (xung đột tích cực) là sự đối đầu giữa hai phía mà có tác dụng hoàn thiện hay mang lại lợi ích cho việc thực hiện nhiệm vụ của tổ chức. Loại xung đột này có vai trò tích cực trong việc hoàn thành tốt công việc và nâng cao hiệu quả thực hiện công việc. 10 Trong tổ chức, xung đột chức năng thường đem lại hiệu quả trong công việc, giúp các cá nhân làm việc sáng tạo hơn, năng suất hơn, tạo môi trường cạnh tranh tích cực nhưng lại mang tới áp lực.
Vì đây là loại xung đột có cường độ tương đối yếu nên mức độ tác động đến thái độ và hành vi của các cá nhân và nhóm trong tổ chức phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan trong công việc.2 Xung đột phi chức năng Xung đột phi chức năng (xung đột tiêu cực) là bất kỳ sự tương tác nào mà cản trở hoặc tàn phá việc đạt tới mục tiêu của nhóm hay tổ chức.2 Phân loại theo mối quan hệ giữa các bên xung đột 2.1 Xung đột nội tâm Xung đột nội tâm là xung đột bên trong đối với cá nhân (thông qua các tác động của nó có thể ảnh hưởng sâu sắc đến hoạt động của tổ chức) và có lẽ đây là hình thức xung đột khó khăn nhất để phân tích và xử lý. Về cơ bản nó là một xung đột giữa hai yếu tố không tương thích. Nó phát sinh khi một kích thích gợi lên hai khuynh hướng khác biệt và tương thích, cá nhân được yêu cầu phân biệt giữa các khuynh hướng. Đó là một tình huống phổ biến đối với cá nhân để trải nghiệm sự thất vọng và cho phép tình huống xung đột của họ được thể hiện trong một loạt các hành vi.
Một ví dụ về xung đột nội tâm là sự mâu thuẫn giữa động lực làm việc và các nhu cầu cần thiết. Theo tháp nhu cầu của A. Maslow, khi nhu cầu của con người được đáp ứng ở từng bậc thang thì mục tiêu làm việc của con người cũng tương ứng với đó. Khi chưa đáp ứng được nhu cầu sinh lý về ăn, mặc, ở,.
thì người lao động không thể phấn đấu làm việc vì mục tiêu được tôn trọng. Sự bất đồng trong nhu cầu được đáp ứng và động cơ làm việc này chính là xung đột nội tâm.2 Xung đột giữa các cá nhân Xung đột giữa các cá nhân nhấn mạnh đến sự tương tác của các yếu tố con người trong tổ chức mà ở đây, người ta quan tâm đến các yếu tố này khi chúng xuất hiện trong các mối quan hệ tương đối. Xung đột giữa các cá nhân có thể xuất phát từ sự khác biệt cá nhân như thái độ, giá trị, sự nhận thức và những khác biệt khác. Nó có thể là thực chất khách quan hoặc cảm xúc chủ quan hay cũng có thể là cả hai.3 Xung đột nội bộ nhóm Xung đột xảy ra trong nội bộ nhóm hay tổ đội được gọi là xung đột nội bộ nhóm.
Có 2 loại xung đột nội bộ nhóm: xung đột nhiệm vụ và xung đột mối quan hệ. Xung đột nhiệm vụ là nhận thức của các thành viên nhóm hoặc cá nhân bất đồng về nội dung quyết định của họ và liên quan đến sự khác biệt về quan điểm, lý tưởng hay quan điểm. Xung đột mối quan hệ là nhận thức về sự không tương thích giữa các cá nhân và bao gồm sự khó chịu và thù địch giữa các cá nhân.4 Xung đột giữa các nhóm Xung đột giữa các nhóm xảy ra giữa các thành viên của các nhóm khác nhau có thể dựa trên nền tảng vật chất và/ hoặc cảm xúc. Xung đột giữa các nhóm thường xuất hiện trong tổ chức và nó có thể khiến việc điều phối và kết hợp các nhiệm vụ trở nên rất khó khăn.
Ví dụ điển hình là xung đột về chức năng giữa các nhóm làm việc hoặc các phòng ban, như Phòng Marketing với Phòng Sản xuất trong tổ chức. Việc sử dụng ngày càng tăng của các nhóm chức năng là một cách cố gắng giảm thiểu các xung đột đó và thúc đẩy các hoạt động sáng tạo và hiệu quả. Tiến trình xảy ra xung đột Tiến trình xảy ra xung đột trải qua 5 giai đoạn như sau: Mô hình 1. Tiến trình diễn ra xung đột Nguồn: Robbins S.1 Giai đoạn 1: Nguyên nhân dẫn đến xung đột Có 3 nguyên nhân chính dẫn đến xung đột: Truyền thông, Cơ cấu tổ chức và Các biến cá nhân.
- Truyền thông: Ý nghĩa từ khác nhau, biệt ngữ không đủ trao đổi thông tin và tiếng ồn trong kênh truyền thông là tất cả các điều kiện tiền đề để xung đột. Quá nhiều giao tiếp, cũng như quá ít giao tiếp, có thể đặt nền tảng cho xung đột. - Cơ cấu tổ chức: Trong bối cảnh này, cấu trúc thuật ngữ được sử dụng để bao gồm các biến như kích thước, mức độ chuyên môn hóa trong các nhiệm vụ được giao cho các thành viên nhóm, sự rõ ràng về quyền lực, khả năng tương thích thành viên / mục tiêu, phong cách lãnh đạo, hệ thống khen thưởng và mức độ phụ thuộc giữa các nhóm. Quy mô và chuyên môn hóa đóng vai trò là lực lượng để kích thích xung đột.
Nhóm càng lớn và các hoạt động của nó càng chuyên biệt thì khả năng xảy ra xung đột càng cao. Nhiệm kỳ và xung đột đã được tìm thấy có liên quan nghịch đảo. Khả năng xảy ra xung đột có xu hướng lớn nhất khi các thành viên trong nhóm trẻ hơn và khi doanh thu cao. Trong việc xác định trách nhiệm cho hành động nằm ở đâu; sự mơ hồ càng lớn thì khả năng xảy ra xung đột trên bề mặt càng lớn.
Sự mơ hồ về quyền tài phán như vậy làm tăng sự đấu tranh giữa các nhóm để giành quyền kiểm soát hoặc tài nguyên và lãnh thổ. - Các biến cá nhân: Một số loại tính cách - ví dụ, những cá nhân có tính độc đoán và giáo điều cao - dẫn đến xung đột tiềm tàng. Một lý do khác cho xung đột là sự khác biệt trong các hệ thống giá trị. Sự khác biệt về giá trị là những giải thích tốt nhất cho các vấn đề đa dạng như sự bất đồng định kiến về đóng góp của một người cho nhóm và phần thưởng xứng đáng.2 Giai đoạn 2: Nhận thức và cảm nhận về xung đột - Nhận thức về xung đột: Xuất hiện khi một hay nhiều bên nhận thức được ra những vấn đề có thể phát sinh ra xung đột.
- Cảm nhận về xung đột: Thái dộ và cảm xúc của một hay nhiều bên khi nhận thấy xung đột như cảm giác căng thẳng, lo lắng, thất vọng, lo sợ, chán nản,… - 13 3.3 Giai đoạn 3: Giải quyết xung đột Mô hình 2.