Chương 1: Cơ sở lý luận về vốn lƣu động và quản trị vốn lƣu động. Chương 2: Thực trạng về quản trị vốn lƣu động tại Công ty Cổ phần Nƣớc sạch Quảng Ninh. Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện quản trị vốn lƣu động tại Công ty Cổ phần Nƣớc sạch Quảng Ninh. 6 CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VỐN LƢU ĐỘNG VÀ QUẢN TRỊ VỐN LƢU ĐỘNG 1.1 Vốn lƣu động và các nhân tố ảnh hƣởng tới cơ cấu vốn lƣu động trong doanh nghiệp 1.1 Khái niệm, đặc điểm và phân loại vốn lƣu động 1.1 Khái niệm Kinh tế thị trƣờng là mô hình kinh tế phổ biến của thế giới đƣơng đại.
Đây là thành tựu chung của văn minh nhân loại chứ không phải là sản phẩm mang tính đặc thù của chủ nghĩa tƣ bản. Tuy nhiên, việc áp dụng và thực hiện mô hình kinh tế thị trƣờng trên thế giới rất phong phú, đa dạng. Ở các nƣớc tƣ bản phát triển, mô hình kinh tế thị trƣờng đã trải qua nhiều giai đoạn biến đổi thăng trầm, tiến hóa theo thời gian cùng với sự phát triển của lực lƣợng sản xuất và các quan hệ kinh tế, dƣới tác động của cách mạng khoa học – kỹ thuật, ngày nay là cách mạng khoa học – công nghệ. Các mô hình kinh tế thị trƣờng của các nƣớc này có những sự biến đổi, thích nghi để tồn tại và phát triển.
Nền kinh tế của Việt Nam là nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng Xã hội Chủ nghĩa, trong đó mỗi doanh nghiệp đƣợc ví nhƣ một tế bào với nhiệm vụ chủ yếu là thực hiện các hoạt động sản xuất kinh doanh bằng sự kết hợp cả 3 yếu tố: Sức lao động, tƣ liệu lao động và đối tƣợng lao động nhằm tạo ra các sản phẩm hàng hoá, lao vụ, dịch vụ cung cấp cho xã hội. Doanh nghiệp có thể thực hiện một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tƣ từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm lao vụ, dịch vụ trên thị trƣờng nhằm mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận. Tƣ liệu lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh thì không thay đổi hình thái biểu hiện ban đầu, giá trị đƣợc chuyển dịch từng phần vào giá trị sản phẩm và chỉ đƣợc thu hồi qua nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh. Về mặt hiện vật, tƣ liệu lao động là các tài sản cố định (máy móc, thiết bị, nhà xƣởng…).Về mặt giá trị thì đƣợc gọi là vốn cố định của doanh nghiệp (Vũ Duy Hào, Đàm Văn Huệ, 2009).
Khác với tƣ liệu lao động, đối tƣợng lao động khi tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh luôn thay đổi hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó đƣợc chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm và đƣợc bù đắp khi giá trị sản phẩm đƣợc 7 thực hiện. Biểu hiện dƣới hình thái vật chất của đối tƣợng lao động gọi là tài sản lƣu động (TSLĐ), còn về hình thái hiện vật đƣợc gọi là VLĐ của doanh nghiệp (VLĐ). Tài sản lƣu động của doanh nghiệp bao gồm tài sản lƣu động sản xuất và tài sản lƣu động lƣu thông. + TSLĐ sản xuất gồm những vật tƣ dự trữ để chuẩn bị cho quá trình sản xuất đƣợc liên tục, vật tƣ đang nằm trong quá trình sản xuất chế biến và những tƣ liệu lao động không đủ tiêu chuẩn là tài sản cố định.
Thuộc về TSLĐ sản xuất gồm: Nguyên vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu, phụ tùng thay thế, sản phẩm dở dang, công cụ lao động nhỏ. + TSLĐ lƣu thông là những tài sản lƣu động nằm trong quá trình lƣu thông gồm: Sản phẩm hàng hoá chƣa tiêu thụ, vốn bằng tiền, vốn trong thanh toán (Vũ Duy Hào, Đàm Văn Huệ, 2009). Quá trình sản xuất của doanh nghiệp luôn gắn liền với quá trình lƣu thông. Trong quá trình tham gia vào các hoạt động sản xuất kinh doanh tài sản lƣu động sản xuất và tài sản lƣu động lƣu thông luôn chuyển hoá lẫn nhau, vận động không ngừng làm cho quá trình sản xuất kinh doanh đƣợc liên tục.
Để hình thành nên tài sản lƣu động sản xuất và tài sản lƣu động lƣu thông doanh nghiệp cần phải có một số vốn thích ứng để đầu tƣ vào các tài sản ấy, số tiền ứng trƣớc về những tài sản ấy đƣợc gọi là vốn lƣu động của doanh nghiệp. Như vậy, vốn lưu động là số tiền ứng trước về tài sản lưu động sản xuất và tài sản lưu động lưu thông nhằm đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nói cách khác, VLĐ là biểu hiện bằng tiền của các TSLĐ trong doanh nghiệp. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra liên tục nên vốn lưu động cũng vận động liên tục, chuyển hoá từ hình thái này qua hình thái khác.
Vốn lƣu động của doanh nghiệp là vốn ứng trƣớc về đối tƣợng lao động và tiền lƣơng tồn tại dƣới hình thái nguyên vật liệu dự trữ, sản phẩm đang chế tạo, thành phẩm, hàng hoá và tiền tệ hoặc là số vốn ứng trƣớc về tài sản lƣu động sản xuất và tài sản lƣu thông ứng ra bằng vốn lƣu động nhằm đảm bảo cho quá trình tái sản xuất của doanh nghiệp thƣờng xuyên và liên tục. 8 Vốn lƣu động (VLĐ) (working capital) đôi khi còn đƣợc gọi là vốn lƣu động gộp (gross working capital) là thuật ngữ dùng để chỉ toàn bộ tài sản ngắn hạn đƣợc sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hay nói cách khác, vốn lƣu động là những tài sản gắn liền với chu kỳ kinh doanh của doanh nghiệp (Nguyễn Thu Thủy, 2011). Thuật ngữ vốn lƣu động xuất phát từ một ngƣời Yankee (Hoa Kỳ) làm nghề bán hàng rong.
Vào thời điểm đó, ông ta gọi hàng hóa đem đi bán là vốn lƣu động vì những hàng hóa này khi đƣợc đem bán sẽ mang lại cho ông ta một khoản lợi nhuận nào đó. Ban đầu, ông bỏ tiền túi ra để mua xe ngựa chở hàng. Xe ngựa chở hàng đƣợc xem nhƣ tài sản cố định và khoản vốn đầu tƣ cho tài sản này là vốn chủ sở hữu của ông ta. Tuy nhiên để có đƣợc hàng hóa đem đi bán, ông ta tiến hành vay ngân hàng và những khoản vay này đƣợc gọi là khoản vay vốn lƣu động.
Thông thƣờng các khoản vay này sẽ đƣợc trả sau mỗi chuyến đi để chứng minh cho ngân hàng thấy đƣợc tính an toàn của các khoản tín dụng mà ngân hàng cấp cho ông ta. Nhƣ vậy, có thể nói rằng, về lịch sử tiền thân của quản trị tài chính cổ điển chính là quản trị vốn lƣu động. Từ khi hoạt động buôn bán mới chỉ tồn tại dƣới hình thức giản đơn ngƣời ta đã biết vận dụng mối liên hệ tƣơng quan giữa tài sản ngắn hạn và các nguồn tại trợ ngắn hạn để thúc đẩy chu trình luân chuyển hàng hóa nhằm tìm kiếm giá trị gia tăng (Nguyễn Thu Thủy, 2011).2 Đặc điểm vốn lƣu động Vốn lƣu động hoàn thành một vòng tuần hoàn sau một chu kỳ sản xuất. Trong quá trình đó, vốn lƣu động chuyển toàn bộ, một lần giá trị vào giá trị sản phẩm, khi kết thúc quá trình sản xuất, giá trị hàng hóa đƣợc thực hiện và vốn lƣu động đƣợc thu hồi.
Trong quá trình sản xuất, vốn lƣu động đƣợc chuyển qua nhiều hình thái khác nhau qua từng giai đoạn. Các giai đoạn của vòng tuần hoàn đó luôn đan xen với nhau mà không tách biệt riêng rẽ. Vì vậy trong quá trình sản xuất kinh doanh, quản lý vốn lƣu động có một vai trò quan trọng. Việc quản lý vốn lƣu động đòi hỏi phải thƣờng xuyên nắm sát tình hình luân chuyển vốn, kịp thời khắc phục những ách tắc sản xuất, đảm bảo đồng vốn đƣợc lƣu chuyển liên tục và nhịp nhàng.
9 Trong cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm về tài chính, sự vận động của vốn lƣu động đƣợc gắn chặt với lợi ích của doanh nghiệp và ngƣời lao động. Vòng quay của vốn càng đƣợc quay nhanh thì doanh thu càng cao và càng tiết kiệm đƣợc vốn, giảm chi phí sử dụng vốn một cách hợp lý làm tăng thu nhập của doanh nghiệp, doanh nghiệp có điều kiện tích tụ vốn để mở rộng sản xuất, không ngừng cải thiện đời sống của công nhân viên chức của doanh nghiệp.3 Phân loại vốn lƣu động Để quản lý, sử dụng VLĐ có hiệu quả cần phải tiến hành phân loại VLĐ. Có nhiều cách phân loại, mỗi cách có tác dụng riêng nhƣng nhìn chung chúng đều giúp cho ngƣời quản trị doanh nghiệp đánh giá tình hình quản lý và sử dụng vốn ở những kỳ trƣớc trên những góc độ khác nhau của mục đích nghiên cứu, rút ra những bài học kinh nghiệm và đề ra những biện pháp quản lý hiệu quả sử dụng vốn ở những kỳ tiếp theo. Thông thƣờng có một số cách phân loại chủ yếu sau: * Phân loại theo hình thái biểu hiện, VLĐ được chia thành 2 loại: - Vốn vật tƣ, hàng hoá: là các khoản vốn lƣu động có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể nhƣ nguyên, nhiên, vật liệu, sản phẩm dở dang, bán thành phẩm, thành phẩm (Vũ Duy Hào, Đàm Văn Huệ, 2009).
- Vốn bằng tiền: bao gồm các khoản vốn tiền tệ nhƣ tiền mặt tồn quỹ, tiền gửi ngân hàng, các khoản vốn trong thanh toán, các khoản đầu tƣ chứng khoán ngắn hạn (Dương Hữu Hạnh, 2009). Cách phân loại này giúp cho các doanh nghiệp xem xét, đánh giá mức tồn kho dự trữ và khả năng thanh toán của doanh nghiệp. * Phân loại theo quan hệ sở hữu, VLĐ được chia thành 2 loại: - Vốn chủ sở hữu: là số vốn lƣu động thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có đầy đủ các quyền chiếm hữu, sử dụng, chi phối và định đoạt. Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng nhƣ: vốn đầu tƣ từ ngân sách nhà nƣớc; vốn do chủ doanh nghiệp tƣ nhân tự bỏ ra; vốn góp cổ phần trong công ty cổ phần; vốn góp từ 10 các thành viên trong doanh nghiệp liên doanh; vốn tự bổ sung từ lợi nhuận doanh nghiệp (Dương Hữu Hạnh, 2009).
- Các khoản nợ: là các khoản vốn lƣu động đƣợc hình thành từ vốn vay các ngân hàng thƣơng mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn vay thông qua phát hành trái phiếu; các khoản nợ khách hàng chƣa thanh toán. Doanh nghiệp chỉ có quyền sử dụng trong một thời hạn nhất định (Dương Hữu Hạnh, 2009). Cách phân loại này cho thấy cơ cấu vốn lƣu động của doanh nghiệp đƣợc hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay các khoản nợ.