Chương 1: Cơ sở lý luận về quan trị hoạt động truyền thông thương hiệu cho tạp chí về lĩnh vực làm đẹp, thời trang và phong cách sống Chương 2: Thực trạng việc quản trị hoạt động truyền thông thương hiệu cho tạp chí về lĩnh vực làm đẹp, thời trang và phong cách sống Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao hoạt động quản trị truyền thông thương hiệu cho tạp chí về lĩnh vực làm đẹp, thời trang và phong cách sống 20 CHUONG 1: CƠ SO LÝ LUẬN VE QUAN TRI HOẠT ĐỘNG TRUYEN THONG THUONG HIEU CHO TAP CHi VE LINH VUC LAM DEP, THOI TRANG VA PHONG CACH SONG 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1.1 Quản trị Quản trị là một hoạt động gan liền với quá trình phát triển cũng như tồn tai của bat kì doanh nghiệp hay tô chức nào. Ngày nay, hoạt động quan trị thường được thé hiện rõ ràng nhất và gan liền trực tiếp nhất đến các doanh nghiệp, tổ chức về ngành nghề các các lĩnh vực kinh doanh. Đã có rất nhiều bài báo, báo cáo, luận văn, cũng như các công trình nghiên cứu khoa học về các lĩnh vực xung quanh hoạt động quản trị, quản lý, cả về quản trị về con người, quản trị kinh doanh,. Từ đó có thể cho thấy, quản trị là một hoạt động thường xuyên và rất quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp tổ chức nào.
Vậy quan trị nên được hiểu như thé nào? Về bản chất của quản trị, theo TS. Mai Văn Bưu và TS. Phan Kim Chiến trong cuốn “Lý thuyết quan trị kinh doanh ” đã chỉ ra, quản tri ra đời để tạo ra hiệu quả hoạt động cao hơn hăn so với lao động của từng cá nhân riêng lẻ trong một nhóm người. Thật vậy, các tác giả có quan điểm rằng quản trị chính là quản trị con người trong doanh nghiệp, thông qua việc quả trị con người mà có thê sử dụng tối đa mọi tiềm năng và cơ hội của doanh nghiệp dé thực hiện các hoạt động kinh doanh theo mục tiêu đã định, đem lại lợi ích kinh tế tối đa cho doanh nghiệp.
Các tác giả cũng đưa ra một luận điểm khác dưới góc nhìn của kinh tế - xã hội. Về bản chất, quản trị xuất phát từ phạm vi lợi ích của doanh nghiệp, hoạt động quản trị có thể đảm bảo được cho đoanh nghiệp ton tại va phat trién lau dai trong bối cảnh có sự cạnh tranh và biến động của thị trường. Theo tác giả Nguyễn Thị Yến định nghĩa: “Quản tri là quá trình làm việc với con người và thông qua con người dé hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức với hiệu quả cao, quan trị vừa có tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật”. 21 Mary Parker Follett, nhà văn, nhà xã hội học,.
người được mệnh danh là “the woman who invented management”, là người đã viết ra những thuyết về quản lý, quản trị học, mà những học thuyết của bà cũng đóng vai trò tác động lên quá trình phát triển của ngành quản trị, quản lý đến tận ngày nay. Bà cho rằng, quản trị là một bộ môn nghệ thuật, mà thông qua người khác dé đạt được mục đích của mình. Mặc dù bản thân bà chưa bao giờ trực tiếp quản lý một tổ chức nào, tuy nhiên dựa vào những học thuyết của bà mà mọi người có thể ngầm hiéu được tầm quan trọng của một nhà quan tri cũng như quản lý. Harold Koontz, Cyril O’Donnell (1972), trong cuốn sách “Principles of Management: An Analysis of Managerial Functions” đã định nghĩa rằng, quan trị là một hoạt động ma thông qua nó có nhiệm vụ cơ ban là thiết kế và duy tri một môi trường mà trong đó, các cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm dé đạt được một mục tiêu nhất định.
Đồng tác giả đã chi ra trong tác phẩm của mình những nguyên tắc có thé được sử dung trong các hoạt động và chức năng quản trị quản lý khác nhau có thể ké đến bao gồm nguyên tắc lập kế hoạch, nguyên tắc tổ chức, nguyên tắc nhân sự, nguyên tắc chỉ đạo, và nguyên tắc kiểm soát. Ngoài ra họ cũng khuyến nghị các nhà quản lý cần đặt ra một quy trình dé đảm bảo các nguyên tắc này cần được nhớ lại, hoặc thực hiện lại theo một chu trình để áp dụng đúng vào các nhiệm vụ quản lý của minh. Ngoài ra còn một số quan điểm khác của các nhà nghiên cứu trong nước về van dé quản trị, có thể kế đến như nhận định của giáo su Vũ Thế Phú: “Quản trị là một tiễn trình làm việc với con người và thông qua con người dé hoàn thành mục tiêu của một tổ chức trong một môi trường luôn luôn thay doi. Trọng tâm của tiễn trình này là sử dụng có hiệu quả những nguồn tài nguyên có hạn”.
Khái niệm của Th.S Cao Anh Thảo khái quát răng, Quản trị là quá trình tác động thường xuyên, liên tục và có tổ chức của chủ thé quản trị đến đối tượng quản trị nhằm phối hợp các hoạt động giữa các bộ phận, các cá nhân, các nguồn lực lại với nhau một cách nhịp nhàng, ăn khớp dé đạt đến mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao nhất. 22 Như vậy qua các định nghĩa của các nhà nghiên cứu trên thế giới và trong nước, tac gia có thể rút ra một khái niệm chung nhất về quản tri, là quá trình tác động, điều khiển và kiểm soát thường xuyên, liên tục và có hoạch định, tô chức của chủ thể quản trị (hệ thống quản trị) đến đối tượng quản trị (hệ thống bị quản trị) nhằm hướng đến mục tiêu phối hợp các hoạt động giữa các bộ phận, cá nhân, các nguồn lực lại với nhau một cách nhịp nhàng, ăn khớp dé đạt đến mục tiêu đã vạch ra một cách tối ưu nhất của tô chức, tạo ra được giá trị thặng dư, nhằm làm cho các hoạt động của tập thé (tổ chức) mang lại kết quả cao nhất với chi phí thấp nhất, thỏa mãn ngày càng nhiêu hơn nhu câu vê vat chat va tinh thân của cả cộng đông.2 Truyền thông Trong cuốn “Truyén thông đại chúng trong công tác lãnh đạo quản lý”, PTS. Vũ Dinh Hoe cùng các cộng sự đã đưa ra khái niệm về Truyền thông như sau: “Truyền thông là quá trình trao đổi thông điệp giữa các thành viên hay các nhóm người trong xã hội nhằm dat được sự hiểu biết lẫn nhau ”. Cũng trong cuốn sách này, các tác giả đã trích dẫn khái niệm về Truyền thông của tác giả Martin P.Andelson: “Truyền thông là quá trình trong đó chúng ta hiểu được người khác và làm cho người khác hiểu được chúng ta.
Đó là một quá trình liên tục, luôn thay đổi và biến chuyển dé thích ứng với các tình huống giao tiếp khác nhau ”. Trong một công trình nghiên cứu về truyền thông công bố vào năm 1970, Frank Dance định nghĩa: “Truyền thông là quá trình làm cho cdi trước đây là độc quyên của một hoặc vài người trở thành cái chung của hai hoặc nhiễu người ”. Tuy ngành nghề truyền thông mới phát triển mạnh nhất tại Việt Nam những năm gần đây, nhưng định nghĩa và khái niệm về nó trên thế giới đã có những tranh cãi từ những năm cuối thé ki 20. Vào thời gian đó, truyền thông hay truyền thông đại chúng được thế giới chia làm 8 ngành nghề chính đó là: Sách, báo in, ghi đữ liệu, tap chí, phát thanh, điện ảnh, truyền hình và Internet.
Vào thập niên 2000 thì nó được chia là “seven mass media”, định nghĩa là bảy loại hình truyền thông đại chúng, bao 23 gồm: in ấn, ghi dữ liệu, điện ảnh, phát thanh, truyền hình, internet và điện thoại di động. Nhu vậy có thé thấy, so với thời kì trước, tất cả các tác phẩm được in ấn như sách, báo, tạp chí đã được gộp lại thành một ngành In ấn, và có sự xuất hiện mới của điện thoại di động. Tuy chia thành nhiều loại hình như vậy, nhưng các loại hình trên đề có các yếu tố, đặc điểm chung của truyền thông bao gồm 06 yếu tố chính: + Chủ thé nội dung truyền thông: Là người tạo ra nội dung truyền thông, có thé là đại điện tổ chức, nhà sản xuất, đại điện bộ phận truyền thông. + Nội dung: Là phần nội dung của thông điệp muốn quảng bá, mang nội dung phù hợp, mục đích là quảng bá, marketing, truyền đạt nham thu hút sự chú ý, quan tâm đến đối tượng mục tiêu, có thé thé hiện dưới dang bai phát biéu, TVC, video, bản tin, bai bao,.
+ Kênh truyền tai: Là noi phân phối nội dung truyền thông đến đối tượng mục tiêu, có thé là bai báo, internet,. + Đối tượng mục tiêu: Là người, nhóm người mà chiến dịch truyền thông hướng tới. re + Phản hồi: Là sự phản hồi lại của đối tượng mục tiêu sau khi tiếp nhận nội dung truyền thông. Có thể là yêu, ghét, không thích, góp ý, hoặc hành động tiêu dùng,.
+ Nhiễu: Nhiễu là những yếu tố rào can trong quá trình truyền thông như là những rào cản ngôn ngữ, rào cản văn hóa xã hội, rào cảnh về ngữ cảnh. gây ra việc truyền tải thông điệp truyền thông không hiệu quả và xảy ra nhiều trục trặc. Tuy có nhiều định nghĩa về Truyền thông được đưa ra, nhưng nhìn chung chúng đều có những điểm chung nhất định về bản chất. Chúng ta có thể khái quát về định nghĩa chung của truyền thông như sau: Truyền thông là một quá trình mang tính chất thường xuyên, liên tục giữa hai hay nhiều người với nhau thông qua việc chia sẻ thông tin, kiến thức, tình cảm, kinh nghiệm.
Hoạt động này hướng đến mục đích giúp tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau, từ đó tiến tới thay đôi nhận thức, điều chỉnh hành vi và thái độ để phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân, tổ chức. 24 Trong khuôn khô luận văn của mình, tác giả sẽ đi sâu phân tích rõ hơn về vai trò của truyền thông đối với doanh nghiệp. Paul Watzlawick, một nhà lý luận về truyền thông, đã viết: “Jt is impossible not to communicate.” Các thương hiệu lớn đầu tiên xuất hiện trên thị trường, từ Pears Soap đến Kodak đến Coca-Cola, xây dựng hoạt động kinh doanh của họ dựa trên các khoản đầu tư lớn vào quảng cáo. Lay ví dụ từ Coca-cola — một trong những thương hiệu nước giải khát nói riêng và một thương hiệu mạnh nói chung — là một trong những thương hiệu có tầm ảnh hưởng và có độ phủ sóng cũng như nhận diện lớn nhất trên thế giới.
Có rất nhiều chiến dịch quảng cáo gan lién voi thương hiệu được nhận diện va được yêu thích nhất trên thế giới, có thé ké đến các chiến dich như Always Coca-cola; Happiness Machine va For all, Coca-cola.