phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung ch nh của luận văn cơ ản đƣợc chia thành a chƣơng: Chƣơng 1: Những vấn đề l luận cơ ản về rủi ro t n dụng và quản trị rủi ro t n dụng của ng n hàng thƣơng mại Chƣơng 2: Thực trạng quản trị rủi ro t n dụng tại Ng n hàng thƣơng mại cổ phần Ti n Phong Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro t n dụng tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Tiên Phong 8 CHƢƠNG 1. RỦI RO T N DỤNG VÀ QUẢN TRỊ RỦI RO T N DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Rủi ro t n dụng của ng n hàng thƣơng mại ạt ng t n ng ng n h ng thương ại Tín dụng là hệ thống quan hệ kinh tế li n quan đến các giao dịch về tài sản giữa bên cho vay và bên đi vay, trong đ n cho vay chuyển giao tài sản n đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, n đi vay c trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho n cho vay khi đến hạn thanh toán. Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng, trong đ n cho vay là các tổ chức tín dụng và n đi vay là các chủ thể trong nền kinh tế - xã hội.
Xét về bản chất, tín dụng là một giao dịch về tài sản tr n cơ sở hoàn trả với các đặc trƣng sau. Thứ nhất, tài sản giao dịch trong quan hệ tín dụng bao gồm hai hình thức là tiền hay hiện vật. Thứ hai, tín dụng phải tuân thủ theo nguyên tắc hoàn trả, vì vậy ngƣời cho vay khi chuyển giao tài sản cho ngƣời đi vay sử dụng phải có cơ sở để tin rằng ngƣời đi vay sẽ trả đúng hạn. Thứ ba, giá trị đƣợc hoàn trả thông thƣờng phải lớn hơn giá trị lúc cho vay hay n i cách khác là ngƣời đi vay phải trả thêm phần lãi ngoài vốn gốc.
Thứ tư, tiền vay đƣợc cấp tr n cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện, c nghĩa là n đi vay cam kết hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán. hái niệ i tn ng ng n h ng thương ại Theo Hiệp hội các chuyên gia rủi ro toàn cầu (GARP, 2018) thì có nhiều định nghĩa về rủi ro trong ng n hàng, nhƣng tựu chung lại, rủi ro trong ngân hàng đƣợc đa số các chuyên gia công nhận bao gồm các đặc điểm sau đ y: là khả năng một sự kiện không mong muốn sẽ xảy ra; có một mức độ thiệt hại nhất định từ một sự kiện bất ngờ; là xác suất mà “mọi thứ sẽ trở n n không đúng” (things won’t go right) và tất cả đều gây ra những ảnh hƣởng từ việc mất mát tài sản hay làm phát sinh một khoản nợ. Và kết luận chung thì bản chất rủi ro là sự bất trắc không mong đợi, gây ra thiệt hại và có thể đo lƣờng đƣợc. 9 Giáo trình “Financial Institution Management – A risk management approach” (Tạm dịch: Quản trị định chế tài chính – Tiếp cận từ quản trị rủi ro) của Anthony Sanders (2018) đã ph n chia rủi ro trong ngân hàng thành những loại sau: "Rủi ro tín dụng, rủi ro lãi suất, rủi ro hoạt động, rủi ro tỷ giá, rủi ro ngoại bảng, rủi ro thị trƣờng, rủi ro thanh khoản".
Trong đ , khái niệm rủi ro tín dụng đƣợc định nghĩa là rủi ro dòng tiền từ các khoản nợ và chứng khoán của ngân hàng không đƣợc thanh toán đầy đủ. Tại tài liệu hƣớng dẫn của Ủy ban Basel về giám sát ng n hàng (2006) định nghĩa rủi ro tín dụng là "Tiềm năng khách hàng vay ng n hàng hoặc đối tác sẽ không đáp ứng đƣợc các nghĩa vụ của mình trong các điều khoản đã thỏa thuận với ngân hàng". Amalendu Ghosh (2012) trong giáo trình “ anaging risks in commercial and retail anking” (tạm dịch: Quản trị rủi ro trong ngân hàng bán lẻ và thƣơng mại) định nghĩa rủi ro tín dụng, cũng c thể gọi là "Rủi ro vỡ nợ, phát sinh từ sự không chắc chắn về các khoản chi trả cho ngân hàng của các đối tác đúng thời gian thỏa thuận". Theo khoản 1, điều 2 uy định phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý RRTD trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành và kèm theo Quyết định số 493/ Đ-NHNN ngày 22/04/2005 của Thống đốc NHNN Việt Nam thì “ ủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết”.
Nhƣ vậy, rủi ro tín dụng là rủi ro phát sinh trong quá trình cấp tín dụng mà ngân hàng thu hồi không đầy đủ hoặc không thể thu hồi đƣợc những dòng tiền đã kỳ vọng trong tƣơng lai. Điều này tƣơng đƣơng với việc khách hàng không đủ khả năng chi trả các dòng tiền đ cũng nhƣ là đang không thực hiện đƣợc đầy đủ các nghĩa vụ đã cam kết với ng n hàng trƣớc đ. Và đặc trƣng của rủi ro tín dụng là xuất phát từ mối quan hệ ngƣời cho vay và ngƣời đi vay, trong đ ng n hàng là ngƣời cho vay và khách hàng là ngƣời đi vay, và rủi ro tín dụng diễn ra trong rất nhiều dạng thức tín dụng của ng n hàng nhƣ cho vay, chiết khấu công cụ chuyển nhƣợng và giấy tờ có giá, cho thuê tài chính, bảo lãnh, bao thanh toán. Ph n ại i tn ng ng n h ng thương ại Có nhiều cách phân loại và tiếp cận TD khác nhau, sau đ y là một số cách phân loại phổ biến.
ứ ủ Rủi ro tín dụng Căn cứ vào nguồn gốc của RRTD có thể chia RRTD làm 2 nhóm: rủi ro đạo đức và rủi ro do sự lựa chọn đối nghịch. Rủi ro đạo đức là rủi ro do thông tin không cân xứng tạo ra sau khi cuộc giao dịch diễn ra. Vì lợi ch cá nh n mà n cho vay đã ỏ qua các thông tin không tin cậy về năng lực trả nợ của n đi vay hoặc n đi vay đã cố tình không tuân thủ các quy định trong thỏa thuận vay, không cung cấp các thông tin có thể ảnh hƣởng đến năng lực trả nợ trong quá trình sử dụng vốn vay. Rủi ro do sự lựa chọ đ i nghịch là rủi ro do thông tin không cân xứng tạo ra trƣớc khi cuộc giao dịch diễn ra.
B n cho vay tin tƣởng vào năng lực của ngƣời vay mà cho vay trong khi ngƣời đi vay với mục đ ch để vay đƣợc vốn đã cung cấp thông tin không trung thực cho bên cho vay. ứ ạ i ủ Rủi ro tín dụng Căn cứ phạm vi của RRTD, có thể phân RRTD thành rủi ro cá biệt và rủi ro hệ thống. Trong thực tiễn hoạt động tín dụng, cách phân loại RRTD theo phạm vi rủi ro sẽ giúp cho ng n hàng đƣa ra các giải pháp quản trị rủi ro phù hợp và hữu hiệu nhất. RRTD cá biệt là RRTD xảy ra đối với một khoản vay của một khách hàng cụ thể, thuộc một nhóm ngành cụ thể.
RRTD hệ th ng là RRTD xảy ra không chỉ đối với một ngân hàng mà mang tính chất hệ thống, lan truyền đến cả khu vực ngân hàng. ứ i i đoạ t i Rủi ro tín dụng Căn cứ vào giai đoạn phát sinh rủi ro, chia làm ba nhóm: Rủi ro trƣớc khi cho vay, rủi ro trong khi cho vay và rủi ro sau khi cho vay. 11 Rủi ro trước khi cho vay Rủi ro xảy ra khi ng n hàng ph n t ch đánh giá sai về khách hàng dẫn đến cho vay các khách hàng không đủ điều kiện đảm bảo khả năng trả nợ trong tƣơng lai. Rủi ro trong khi cho vay Rủi ro này xảy ra trong quy trình cấp tín dụng.
Các nguyên nhân dẫn đến rủi ro này bao gồm: (i) việc giải ng n không đúng tiến độ; (2) không cập nhật thông tin khách hàng thƣờng xuyên; (2i) không dự áo đƣợc rủi ro tiềm năng, khách hàng cố tình không trả nợ vay hoặc cung cấp thông tin không trung thực về khả năng trả nợ. Rủi ro sau khi cho vay xảy ra khi mà cán bộ tín dụng không nắm đƣợc tình hình sử dụng vốn vay, khả năng tài ch nh tƣơng lai của khách hàng. ứ ư ủ Rủi ro tín dụng Căn cứ vào quy mô ảnh hƣởng của TD đến hoạt động của ngân hàng, TD đƣợc chia thành rủi ro khoản vay và rủi ro danh mục. Rủi ro kho n vay là rủi ro đƣợc đánh giá đối với mỗi khoản vay, mức độ rủi ro đƣợc đánh giá đơn lẻ và mức độ ảnh hƣởng thƣờng đƣợc giới hạn do quy mô khoản vay.
Rủi ro danh mục là rủi ro đƣợc đánh giá đối với một danh mục các khoản vay có tính chất tƣơng đồng (đối tƣợng khách hàng, đối tƣợng cho vay hay tính chất khoản vay…). Việc đánh giá rủi ro danh mục có vai trò quan trọng vì mức độ ảnh hƣởng lan tỏa và quy mô tín dụng lớn. ứ ủ Rủi ro tín dụng Căn cứ vào hậu quả của TD đến khả năng thu hồi nợ gốc và lãi của khoản vay, TD đƣợc chia thành rủi ro đọng vốn và rủi ro mất vốn. Rủi ro đọ xảy ra khi NHT xác định ngƣời vay chỉ tạm thời chƣa thanh toán đƣợc nợ gốc và lãi của khoản vay, c ng với một cam kết cụ thể về thời gian trả nợ và nguồn tiền trả nợ.
Rủi ro ất xảy ra khi NHT xác định ngƣời vay không thể trả đƣợc gốc và lãi của khoản nợ tại ất kỷ thời điểm nào nữa trong tƣơng lai, hoặc khả năng trả 12 đƣợc nợ là rất thấp. Thông thƣờng, trƣớc khi đƣợc xác định là khoản vay đã mất vốn, các khoản vay thƣờng ở dạng đọng vốn. á ngu n nh n v tá ng i tn ng TD thƣờng bắt nguồn từ nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan nhƣ sau đ y. Các yếu tố về môi trƣờng kinh tế t chu kỳ phát triển kinh tế.
hi nền kinh tế tăng trƣởng và ổn định thì hoạt động tín dụng cũng sẽ tăng trƣởng theo và ít rủi ro hơn. Ngƣợc lại, khi nền kinh tế rơi vào suy thoái thì sản xuất kinh doanh của khách hàng bị thu hẹp hoặc đình trệ dẫn tới thua lỗ và bị phá sản. Nếu ngân hàng vẫn mạo hiểm tăng trƣởng tín dụng ở mức cao thì khả năng rủi ro không thu đƣợc nợ sẽ tăng l n. i quá trình tự do h a tài ch nh và hội nhập quốc tế.