CHƯƠNG 1: CĂN CỨ XÂY DỰNG ĐỀ ÁN 1. Rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp Về khái niệm rủi ro tín dụng (RRTD), hiện nay đang tồn tại nhiều khái niệm khác nhau về rủi ro tín dụng ngân hàng, cụ thể như: Anthony Sauders (2007) định nghĩa: “Rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm năng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản vay của ngân hàng không thể được thực hiện cả về số lượng và thời hạn”. Theo Ủy ban Basel (2005) về giám sát ngân hàng thì“rủi ro tín dụng là khả năng bên vay hay đối tác của ngân hàng không thực hiện các nghĩa vụ theo điều khoản đã thỏa thuận”.
Trong khái niệm này, sự tổn thất bởi rủi ro tín dụng bắt nguồn từ sự vi phạm của người vay hoặc đối tác. Trong đó, với hoạt động cho vay, rủi ro tín dụng mặc dù xuất phát từ sự vi phạm bởi người vay, nhưng việc lựa chọn người vay có đủ thiện chí và khả năng trả nợ để có thể thực hiện đầy đủ nghĩa vụ như đã cam kết là công việc của ngân hàng. Do đó, sự thiếu sót, sai lầm của ngân hàng trong việc thu thập hoặc xử lý thông tin khi đánh giá, giám sát người vay lại là nguyên nhân chính dẫn đến rủi ro tín dụng của khoản vay, có thể gọi đây là rủi ro giao dịch. Bên cạnh đó, trong hoạt động cho vay, ngân hàng không chỉ thực hiện một giao dịch cho vay đơn lẻ mà còn thực hiện nhiều giao dịch cho vay khác.
Tại một thời điểm bất kì, tất cả các khoản vay này đều có khả năng xảy ra rủi ro tín dụng. Vì thế, rủi ro tín dụng được tạo ra bởi tất cả các khoản vay hiện đang tồn tại trong danh mục, sẽ góp phần tạo nên rủi ro tín dụng tổng thể của ngân hàng, đây có thể gọi là rủi ro danh mục. Như vậy, rủi ro tín dụng là những tổn thất tiềm năng có thể xảy ra trong quá trình cấp tín dụng của ngân hàng, do khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ trả 6 nợ (bao gồm lãi vay và gốc) hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng như đã cam kết trong hợp đồng. Rủi ro tín dụng không chỉ giới hạn ở hoạt động cho vay, mà còn bao gồm nhiều hoạt động mang tính chất tín dụng khác của ngân hàng như bảo lãnh, cam kết, chấp thuận tài trợ thương mại, cho vay ở thị trường liên ngân hàng, tín dụng thuê mua, đồng tài trợ dự án… và rủi ro tín dụng dẫn đến dẫn đến tổn thất tài chính như giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn.
Rủi to tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp là những tổn thất có thể xảy ra trong quá trình cho vay khách hàng doanh nghiệp của NHTM. Phân loại rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp Xây dựng các tiêu chí phân loại rủi ro tín dụng có ý nghĩa rất lớn trong việc thiết lập chính sách, quy trình và mô hình tổ chức quản trị tín dụng. Tuỳ theo tiêu chí phân loại mà người ta có thể chia rủi ro tín dụng thành các loại khác nhau. Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro Căn cứ và nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro tín dụng được phân chia thành các loại: a) Rủi ro giao dịch Rủi ro giao dịch: Là một hình thức của rủi ro tín dụng mà nguyên nhân phát sinh là do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng.
Rủi ro giao dịch có ba bộ phận: - Rủi ro lựa chọn đối nghịch là rủi ro liên quan đến quá trình đánh giá phân tích tín dụng khi ngân hàng lựa chọn phương án vay vốn có hiệu quả để ra quyết định cho vay. - Rủi ro bảo đảm phát sinh từ các tiêu chuẩn đảm bảo như các điều khoản trong hợp đồng cho vay, các loại TSBĐ, chủ thể đảm bảo, cách thức đảm bảo và mức cho vay trên trị giá của TSBĐ. - Rủi ro nghiệp vụ là rủi ro liên quan đến quản lý khoản vay và hoạt động cho vay, bao gồm cả việc sử dụng hệ thống xếp hạng rủi ro và kỹ thuật xử lý các khoản cho vay có vấn đề. b) Rủi ro danh mục tín dụng 7 Là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
Phân loại rủi ro tín dụng căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro Nguồn: Nguyễn Văn Tiến (2017) 1. Quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng thương mại 1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp tại Ngân hàng thương mại Bùi Thị Nhung (2021), “Quản trị rủi ro chính là trung tâm của hoạt động quản trị điều hành của mỗi NHTM. Hiểu một cách đơn giản thì quản trị rủi ro chính là quá trình các NHTM áp dụng các nguyên lý, các phương pháp và kinh nghiệm quản trị ngân hàng vào hoạt động kinh doanh của ngân hàng mình để giám sát phòng ngừa, hạn chế và giảm thiểu rủi ro trong hoạt động tín dụng, đầu tư và các hoạt động kinh doanh khác để ngăn chặn tổn thất thiệt hại cho ngân hàng, đồng thời không ngừng nâng cao sức mạnh và uy tín của ngân hàng trên thương trường.
Quản trị rủi ro là bộ phận quan trọng trong chiến lược kinh doanh của mỗi NHTM, đồng thời với mỗi loại rủi ro cụ thể lại áp dụng các phương pháp quản trị riêng. 8 Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình xây dựng và thực thi các chiến lược, các chính sách quản lý và kinh doanh tín dụng nhằm đạt được các mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững, đồng thời, phải tăng cường các biện pháp phòng ngừa, hạn chế và giảm thấp nợ quá hạn, nợ xấu trong kinh doanh tín dụng, từ đó tăng doanh thu, giảm chi phí và nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh doanh cả trong ngắn hạn và dài hạn của NHTM”. Theo Basel II, “Quản trị rủi ro là một quá trình liên tục cần được thực hiện ở mọi cấp độ của một tổ chức tài chính và là yêu cầu bắt buộc để các tổ chức tài chính có thể đạt được các mục tiêu đề ra và duy trì khả năng tồn tại và sự minh bạch về tài chính”. Do đó có thể hiểu QTRRTD là quá trình TCTD tiến hành các hoạt động tác động đến RRTD, bao gồm việc thiết lập cơ cấu tổ chức, xây dựng hệ thống các chính sách, phương pháp quản lý RRTD để thực hiện quá trình quản lý rủi ro đó là xác định, đo lường, đánh giá, quản lý, giám sát và kiểm tra kiểm soát RRTD nhằm bảo đảm hạn chế tới mức thấp nhất rủi ro xảy ra.
Nguyên tắc quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp Ủy ban Basel đã ban hành 17 nguyên tắc về quản trị nợ xấu mà thực chất là đưa ra các nguyên tắc trong quản trị rủi ro tín dụng, đảm bảo tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động cấp tín dụng. Trong xây dựng mô hình quản trị rủi ro tín dụng, nguyên tắc Basel có một số điểm cơ bản: Một là, Phân tách bộ máy cấp tín dụng theo các bộ phận tiếp thị, bộ phận phân tích tín dụng và bộ phận phê duyệt tín dụng cũng như trách nhiệm rạch ròi của các bộ phận tham gia. Hai là, Nâng cao năng lực của cán bộ quản trị rủi ro tín dụng. Ba là, Xây dựng một hệ thống quản trị và cập nhật thông tin hiệu quả để duy trì một quá trình đo lường, theo dõi tín dụng thích hợp, đáp ứng yêu cầu thẩm định và quản trị rủi ro tín dụng.
Chiến lược, chính sách quản trị rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng doanh nghiệp 9 Chiến lược quản trị rủi ro tín dụng Chiến lược QTRRTD của NHTM do HĐQT phê duyệt và ban hành, được lập cho thời gian tối thiểu ba năm nhưng không quá năm năm. Ngân hàng định kỳ (thường hàng năm) đánh giá lại chiến lược QTRRTD của mình. Chiến lược QTRRTD bao gồm những nội dung chính: Mục tiêu và cách thức để đạt được mục tiêu chiến lược QTRRTD của ngân hàng; Vai trò của HĐQT, Ban kiểm soát, Ban điều hành, Khối Quản lý rủi ro, Phòng Kiểm toán nội bộ và các bộ phận liên quan đến RRTD trong hệ thống QTRR; Nhận diện các rủi ro trọng yếu cần quản lý và thiết lập các nguyên tắc cơ bản để quản lý từng loại rủi ro trọng yếu đó; Thiết lập hạn mức RRTD với từng đối tượng, danh mục tín dụng; Thiết lập quy trình giám sát việc tuân thủ các hạn mức RRTD và chế tài đối vơi việc vi phạm các hạn mức rủi ro. Chiến lược QTRRTD phải đảm bảo các yêu cầu: Tối đa hóa lợi nhuận đồng thời bảo đảm RRTD nằm trong hạn mức rủi ro; Là cơ sở trong việc thiết lập chính sách cấp tín dụng đối với các đối tượng khách hàng, các sản phẩm tín dụng, các ngành, lĩnh vực kinh tế, khu vực địa lý, đồng tiền cấp tín dụng; thời hạn cấp tín dụng; hạn mức cấp tín dụng, chính sách lãi suất và phi lãi suất; cơ chế xử lý các trường hợp ngoại lệ và các vấn đề khác; Phù hợp với mục tiêu chiến lược kinh doanh, mức độ chấp nhận rủi ro của ngân hàng; Có thể điều chỉnh kịp thời trước những thay đổi môi trường kinh doanh, khuôn khổ pháp lý; Có tính kế thừa, liên tục để bảo đảm tính khả thi trong thực hiện qua các chu kỳ kinh tế; Các quyết định và hành vi vi phạm chiến lược QTRRTD phải được báo cáo kịp thời cho cấp có thẩm quyền.