CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. TỔNG QUAN RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Khái niệm rủi ro tín dụng của ngân hàng thương mại Thuật ngữ “rủi ro” đã được nhiều nhà học giả trong và ngoài nước nghiên cứu, chẳng hạn như rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được (Knight, 1921) hay rủi ro là sự bất trắc cụ thể liên quan đến một biến cố không mong đợi (Willett, 1951). Nguyễn Kim Anh (2010) phát biểu rằng “Rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng là những tổn thất xảy ra ngoài ý muốn và ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh ngân hàng”.
Trong số các loại rủi ro ngân hàng phải đối mặt thì RRTD vẫn luôn được xem là một trong những rủi ro quan trọng nhất bởi nó chiếm tỷ trọng lên đến đến 70% trong số các rủi ro của ngân hàng thương mại (Arunkumar và Kotreshwar, 2005). RRTD đề cập đến các sự kiện bất ngờ gây ra tổn thất về mặt giá trị của tài sản, lợi nhuận thực tế thu được thấp hơn so với lợi nhuận dự kiến hoặc tạo thêm chi phí để hoàn thành một giao dịch cụ thể khi các đối tác không thể trả lại các khoản nợ gốc và lãi vay đúng hạn được ghi trong hợp đồng (Hull, 2010). RRTD phát sinh khi xuất hiện khả năng dòng tiền dự kiến mang lại từ việc nắm giữ các tài sản tài chính, ví dụ như các khoản vay hoặc trái phiếu, không được hoàn trả đầy đủ (Saunders và Cornett, 2008). Còn theo Brown và Moles (2016) RRTD có thể được định nghĩa thông qua 3 đặc điểm sau, bao gồm: Tổn thất mà đối tác phải gánh chịu khi vỡ nợ Xác xuất vỡ nợ: Khả năng đối tác không hoàn thành được nghĩa vụ đã được quy định theo hợp đồng.
Tỷ lệ phục hồi: thể hiện mức độ khôi phục lại những tổn thất đã bị gây ra do vỡ nợ. Từ đó RRTD có thể được thể hiện bằng công thức như sau: RRTD = Tổn thất vỡ nợ x Xác xuất vỡ nợ x (1-Tỷ lệ phục hồi) 10 Theo quan niệm của Ủy ban Basel (2000) thì “RRTD là khả năng khách hàng vay hoặc bên đối tác của ngân hàng không thực hiện đúng cam kết đã thỏa thuận”. Theo khái niệm này thì RRTD có phạm vi khá rộng, không chỉ trong quan hệ tín dụng giữa ngân hàng với khách hàng mà trong cả các hoạt động khác như đầu tư, phái sinh mà ngân hàng thực hiện. Tuy nhiên, như đã giới thiệu trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn chỉ nghiên cứu RRTD trong hoạt động cho vay, vì vậy RRTD có thể hiểu đơn giản là sự vi phạm không hoàn trả nợ từ phía khách hàng vay.
Trong khi đó, tại Việt Nam, tại khoản 1 điều 3 Thông tư số 02/2013/TT- NHNN ngày 21/01/2013, RRTD được định nghĩa như sau:”RRTD là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Tóm lại, RRTD của ngân hàng thương mại có thể được hiểu đơn giản nhất là khả năng người vay ngân hàng thương mại hoặc đối tác sẽ không đáp ứng các nghĩa vụ của mình theo các điều khoản đã thỏa thuận. RRTD đôi khi còn được nhắc đến bằng những tên gọi khác như rủi ro vỡ nợ hay rủi ro đối tác. Đặc điểm của rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại Luôn là nguy cơ tiềm ẩn trong hoạt động tín dụng: Có thể nói tất cả các hình thức cấp tín dụng của NH đều chứa đựng rủi ro.
Lúc quyết định cấp tín dụng, NH chưa biết chắc chắn về khả năng thu hồi được khoản tín dụng ấy, vì lúc đó việc thu hồi chưa xảy ra, bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro do không thu hồi được vốn, thu hồi không đầy đủ, không đúng hạn. Nhận thức được đặc điểm này, NH sẽ chấp nhận sự tồn tại của rủi ro và tìm cách để phòng ngừa, kiểm soát để hạn chế thấp nhất rủi ro chứ không thể né tránh, loại bỏ rủi ro. Chịu ảnh hưởng trực tiếp của rủi ro từ khách hàng: Trong quan hệ tín dụng, NH chuyển giao quyền sử dụng vốn cho khách hàng vay trong một thời gian nhất định. Quá trình sử dụng vốn vay của khách hàng diễn biến không ngừng.
Khi người vay gặp rủi ro sẽ làm phát sinh RRTD. Vì vậy, biện pháp phòng ngừa và hạn chế RRTD phải đặc biệt quan tâm đến các rủi ro của khách hàng trên mọi mặt, thường xuyên cập nhật 11 thông tin về khách hàng, theo dõi các dấu hiệu rủi ro, xây dựng và đảm bảo mối quan hệ minh bạch giữa bộ phận tín dụng NH và khách hàng vay. Có thể kiểm soát được: Rủi ro là xác suất xảy ra khả năng khách hàng vay không thanh toán được nợ vay, là sự khác biệt giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng vì khi thực hiện giao dịch tín dụng, từ lúc giải ngân cho đến khi thu hồi vốn về cả gốc và lãi, NH không biết chắc chắn giao dịch đó có hoàn thành hay không, nó có khả năng hoàn thành cũng có khả năng không hoàn thành. Do đó, NH có thể chủ động tính toán được khả năng chịu đựng rủi ro tối đa mà vẫn có lợi nhuận, từ đó đưa ra các chính sách tín dụng phù hợp.
Đối với các nguyên nhân chủ quan do chủ thể tham gia quan hệ tín dụng gây ra rủi ro thì NH có thể kiểm soát được nếu có những biện pháp phù hợp. Đặc điểm này đòi hỏi NH cần có đầy đủ thông tin về độ rủi ro mà NH đang theo đuổi cũng như khả năng gánh chịu rủi ro của mình. Rất đa dạng và phức tạp: RRTD phát sinh khi khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ theo cam kết, khả năng này xảy ra do tác động có tính chủ quan hay khách quan ngoài ý muốn. Những tác động này đến từ nhiều phía: NH, khách hàng và môi trường bên ngoài, do nhiều nguyên nhân khác nhau rất đa dạng và phức tạp nảy sinh trong quá trình thực hiện giao dịch tín dụng, sử dụng vốn của khách hàng.
Chính điều này làm cho RRTD mang tính đa dạng và phức tạp. Do vậy, việc kiểm soát RRTD phải được tiến hành một cách đồng bộ, bằng nhiều giải pháp, không chủ quan với bất kỳ dấu hiệu rủi ro nào. Phân loại rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại RRTD hiện nay có thể được phân loại cụ thể như sau (Arunkumar và Kotreshwar, 2005; Spuchl’akova và các cộng sự, 2015): Rủi ro giao dịch: Phát sinh do những bất cập trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, được chia làm 3 loại là rủi ro lựa chọn, rủi ro đảm bảo và rủi ro nghiệp vụ. Rủi ro lựa chọn: Là rủi ro xuất phát từ những hạn chế trong quá trình đánh giá và phân tích tín dụng khi những khoản vay có hiệu quả cao lại không được ngân hàng lựa chọn.
12 Rủi ro đảm bảo: Xuất phát từ các điều khoản để bảo đảm cho quyền lợi của người cho vay như TSĐB, chủ thể bảo đảm, các hình thức bảo đảm và giá trị khoản vay được cấp trên giá trị của TSĐB Rủi ro nghiệp vụ: Xuất phát từ hoạt động trong quá trình cho vay và sau cho vay. Rủi ro danh mục: Xuất phát từ những hạn chế trong việc quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, bao gồm rủi ro nội tại và rủi ro tập trung. Rủi ro nội tại: Xuất phát từ các đặc trưng của mỗi người đi vay hoặc các ngành, lĩnh vực kinh tế. Rủi ro nội tại giải quyết sự nhạy cảm đối với những nhân tố lịch sử, dự đoán và cho vay làm nên đặc trưng của một ngành kinh doanh cụ thể.
Yếu tố lịch sử giải quyết hiệu quả kinh doanh và sự ổn định trong quá khứ của ngành kinh doanh. Yếu tố dự đoán tập trung vào những đặc điểm chịu tác động từ sự thay đổi và ảnh hướng tích cực hoặc tiêu cực đến hiệu quả kinh doanh trong tương lai. Yếu tố cho vay tập trung vào vào việc làm thế nào TSĐB và các điều khoản trong hợp đồng vay của ngành nghề ảnh hưởng đến rủi ro nội tại. Rủi ro tập trung: Là loại rủi ro xuất phát từ việc ngân hàng tập trung cho vay quá nhiều đối với một số khách hàng hoạt động trong cùng một lĩnh vực kinh tế, cùng một khu vực địa lý nhất định hoặc cùng một loại hình cấp tín dụng có độ rủi ro giống nhau.
Nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Đối với hầu hết các ngân hàng thương mại, các khoản vay là nguồn RRTD lớn nhất và rõ ràng nhất. Tuy nhiên, ngày nay, các ngân hàng đang ngày càng đối mặt với RRTD trong các công cụ tài chính khác nhau ngoài các khoản vay, bao gồm chấp nhận, giao dịch liên ngân hàng, tài trợ thương mại, giao dịch ngoại hối, tương lai tài chính, hoán đổi, trái phiếu, cổ phiếu, quyền chọn, và trong việc gia hạn các cam kết và đảm bảo, và giải quyết các giao dịch. Cho dù RRTD xuất phát từ công cụ hay sản phẩm tài chính nào thì ta vẫn có thể tạm chia nguyên nhân dẫn đến RRTD bao gồm 4 nhóm chính (Nguyễn Kim Anh, 2010): 13 Nguyên nhân khách quan: Trường hợp bất khả kháng, thông tin bất cân xứng, môi trường kinh tế, môi trường pháp lý. Nguyên nhân từ phía ngân hàng: Chính sách tín dụng, cán bộ tín dụng, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng… Nguyên nhân từ phía người đi vay: Trình độ quản lý kém, chiến lược phát triển sai lầm, lừa đảo… Nguyên nhân từ các đảm bảo tín dụng: Sự biến động giá trị TSĐB theo chiều hướng bất lợi.
Chỉ tiêu đo lường rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Đo lường RRTD là quá trình xác định mức độ RRTD cũng như xác suất xảy ra rủi ro giúp ngân hàng đưa ra quyết định cho vay cũng như xây dựng biện pháp quản trị RRTD phù hợp. Để đo lường RRTD các ngân hàng thường xây dựng các mô hình thích hợp để lượng hóa các rủi ro. Còn RRTD của toàn bộ danh mục thì có thể được đo lường thông qua một số chỉ số sau (Nguyễn Kim Anh, 2010) 1. Tỷ lệ nợ quá hạn và tỷ lệ nợ xấu Tỉ lệ nợ quá hạn là chỉ tiêu cơ bản phản ánh RRTD thông qua việc tính toán tỷ số dư nợ quá hạn so với tổng dư nợ của ngân hàng.